CÁC GIẢI PHÁP GIÚP DOANH NGHIỆP DỆT MAY HƯỞNG LỢI LỚN NHẤT TỪ TPP

Đăng lúc: Thứ tư - 23/03/2016 15:56 - Người đăng bài viết: NQB

 Đúng 9h30 sáng nay (23/3), buổi Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Các giải pháp giúp doanh nghiệp dệt may hưởng lợi lớn nhất từ TPP” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp là đơn vị tổ chức sự kiện này.

time

Khách mời là đại diện Bộ Công Thương, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và các doanh nghiệp dệt may sẽ trao đổi xung quanh các chủ đề: Phần I- Cam kết TPP về dệt may: Tổng quan về TPP; Tại sao TPP dành chương riêng về dệt may; Cam kết mở cửa thị trường dệt may; Các quy tắc xuất xứ của Hoa Kỳ và các nước trong TPP đối với Việt Nam; Các nội dung khác (biện pháp tự vệ đặc biệt…); Phần II: Tác động và cách thức đối mặt: Cơ hội đối với ngành dệt may trong TPP; Các trở ngại trực tiếp tới ngành dệt may; Các động thái của Chính phủ giúp doanh nghiệp tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức; Các giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và bứt phá hội nhập.

Theo đánh giá từ các chuyên gia, trong số các ngành được hưởng lợi từ TPP thì ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Một khi TPP có hiệu lực, hàng dệt may sẽ được hưởng mức thuế xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm xuống gần bằng 0% từ mức 17% như hiện nay. TPP cũng có thể giúp dệt may và da giày Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu tới 165 tỷ USD vào năm 2025. Trong trường hợp không có TPP, con số này chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn, khoảng 113 tỷ USD. Đây cũng là ngành được quan tâm nhiều nhất trong TPP khi mà 12 nước thành viên đã đồng ý dành chương riêng về dệt may, tách ra khỏi đàm phán chương 3 về mở cửa thị trường đối với hàng hóa nói chung.

Tuy nhiên, cái khó hiện nay của ngành dệt may chính là phần nguyên phụ liệu. Hiện 70% nguyên phụ liệu của ngành dệt may là hàng nhập khẩu, trong đó đa phần nhập khẩu từ những nước chưa ký kết TPP (Trung Quốc…). Đây sẽ là rào cản khiến ngành dệt may Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập sắp tới bởi theo quy định về nguồn gốc xuất xứ của TPP, một sản phẩm dệt may muốn được hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP thì tất cả các nguyên liệu, bắt đầu từ sợi trở đi, phải được sản xuất tại các nước tham gia TPP.

Tọa đàm diễn ra nhằm giúp doanh nghiệp đưa ra các giải pháp khắc phục các khó khăn cũng như hình dung rõ hơn các cơ hội và thách thức từ TPP đối với ngành dệt may.

HVS_8151

Cam kết TPP về dệt may

Mở đầu buổi giao lưu, bạn Nguyễn Đức Nghĩa – Đà Nẵng đặt câu hỏi:

– Tại sao trong TPP lại có một chương riêng cho ngành dệt may? Điều này nói lên điều gì?

Ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam: Đúng là Hiệp định TPP được quy định cho một ngành cụ thể là dệt may trong khi các nước tham gia TPP có rất nhiều ngành kinh tế quan trọng khác. Theo tôi hiểu, ngành dệt may đối với các nước TPP là một ngành có lợi ích rất lớn. Cụ thể, Mỹ có kim ngạch nhập khẩu khoảng 100 tỷ USD/năm, Nhật Bản 50 tỷ USD/năm, còn với những nước có trình độ thấp hơn như Việt Nam thì ngành dệt may cũng là một trong những ngành đứng đầu cả nước về kim ngach xuất khẩu. Việt Nam so với 11 nước còn lại trong khu vực TPP thì trình độ tương đối thấp nhưng ta vẫn kiên trì đàm phán để lấy ngành dệt may, da giày làm lợi ích cốt lõi để tham gia TPP.

Ông Nguyễn Xuân Dương – Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty May Hưng Yên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên: Nếu nói về vị trí, dệt may Việt Nam đã từng đứng thứ 5 và hiện đang tiến dần tới vị trí thứ 3. Người ta muốn nhập gì ở Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu của các nước tham gia TPP đạt khoảng 16- 17 tỷ. Nếu để thả lỏng nhập khẩu vào thì họ cần phải có chế tài để giảm nhập khẩu của ta và bắt chúng ta phải chấp nhận và làm như thế để có cái cớ để hạn chế nhập khẩu của VN.

Ông Vũ Huy Đông – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đam San: Tôi làm công đoạn đầu của dệt may, đó là chuyên về sợi. Theo tôi ngành dệt may là một trong những ngành cả xã hội đã và đang tiêu dùng nhiều, giá trị gia tăng thấp so với các ngành khác nhưng tác động nhiều đối với xã hội như tạo công ăn việc làm và an sinh xã hội, do đó cần sự quan tâm đúng mức. Chính vì vậy các thành viên trong đoàn đàm phán TPP đã đưa ra một chương riêng về dệt may.

5

Ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam

Bạn Xuân Anh – Hà Nội

– Khi hiệp định TPP được thực thi sẽ có tác động như thế nào tới ngành dệt may của Việt Nam? Trên truyền thông đang có những dự báo khá lạc quan, còn ở góc độ của những người “trong cuộc”, các vị có quan điểm thế nào?

Ông Trương Văn Cẩm – Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam: Theo tôi, đối với lĩnh vực dệt may là các ngành thâm dụng lao động, Hiệp định TPP sẽ có một số tác động như:

Một là: Hiệp định TPP giúp ngành dệt may tăng trưởng xuất khẩu. Riêng ngành dệt may, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường TPP hiện nay chiếm tới 65% của dệt may cả nước (Năm 2015 đạt gần 15 tỷ USD, trong đó Mỹ 11 tỷ, Nhật Bản 2,8 tỷ). Khi thuế suất về 0%, các DN dệt may sẽ tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh, dự báo kim ngạch xuất khẩu vào TPP trong những năm tới có thể tăng 15-20%/năm.

Hai là: Tạo việc làm, giải quyết vấn đề lao động, nhất là lao động nông thôn, do lao động dệt may không đòi hỏi nhiều lao động lành nghề, kỹ năng cao như một số ngành khác.

Ba là: Tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài để cơ cấu lại ngành dệt may vốn yếu ở khâu đầu tư thượng nguồn, tức là sợi, vải, nhuộm hoàn tất, do yêu cầu xuất xứ từ sợi trở đi. Điều đó đã được chứng minh khi rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào VN.

Bốn là: TPP thúc đẩy cải cách thể chế tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn, minh bạch hơn. Tác động tiêu cực có thể dự báo là: Đầu tư nước ngoài sẽ lấn át đầu tư trong nước, và họ mới là người hưởng lợi nhiều nhất từ TPP, nếu các DN trong nước không hợp lực, liên kết để phát triển.

Ông Nguyễn Xuân Dương: Cần bàn thêm về vấn đề hưởng lợi của nước ngoài. Về vốn, chúng ta mới chỉ có 5 tỷ đồng vốn điều lệ. Tỷ lệ này có quá nhỏ trong khi ở nước ngoài thì khoảng 1 tỷ đô, ta được một phần thì nước ngoài được 4 phần. Công nghệ ta cũng kém hơn nước ngoài. Đó cũng là thách thức của lực lượng lao động Việt. Đến một lúc nào đó, TPP là cơ hội để chúng ta phát triển. Ta không nên nghĩ là ta mất cơ hội mà coi đó là tài nguyên để nuôi ngành công nghệ dệt may phát triển. Tôi cho rằng đây là cơ hội để chúng ta phát triển.

ảnh

Ông Nguyễn Xuân Dương – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần May Hưng Yên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên đang giao lưu tại buổi tọa đàm

Chủ tọa:

– Rõ ràng chúng ta có nhiều cách thức tiếp cận vấn đề này, và đây là cách thức động chứ không phải là cách thức tĩnh như cách hiểu của nhiều người. Đây sẽ là cơ hội rất lớn cho dệt may, phát triển công nghệ, M&A… Tuy nhiên, cách thức đưa cơ hội thành hiện thực còn rất nhiều khả năng. Anh Đông có bình luận gì về vấn đề này?

Ông Vũ Huy Đông: Theo tôi, TPP có rất nhiều cơ hội và cũng có nhiều thách thức. Tuy nhiên, chúng ta sẽ bàn câu chuyện thách thức sau. Còn đối với cơ hội, theo tôi cơ hội thứ nhất là TPP sẽ tạo điều kiện để ngành dệt may phát triển bài bản bởi gia công tại Châu Á rất khó khăn. Do vậy khi có TPP thì sẽ có nhiều chính sách để doanh nghiệp phát triển bài bản.Thứ 2, doanh nghiệp cũng sẽ có sự đầu tư một cách bài bản, là cơ hội lớn để doanh nghiệp và nhà quản lý để nhìn nhận lại quá trình đầu tư và phát triển ngành dêt may từ trước tới nay. Tôi đã đi nhiều nước nhưng chưa bao giờ mua được sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu để có thể gọi tên trong chuỗi siêu thị trên trường quốc tế. Đó là điểm yếu chúng ta cần nhìn lại khi vào TPP.

3

Ông Vũ Huy Đông – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đam San

Bạn Đức Minh – Hà Nội

– Tiến độ, mức gỡ bỏ thuế quan đối với các mặt hàng phổ cập sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào? Còn đối với mặt hàng nhạy cảm thì cách thức ảnh hưởng của các dòng thuế ra sao?

Ông Trương Văn Cẩm: Theo quy định của TPP, đối với hàng dệt may, sẽ có khoảng 73% dòng thuế được giảm ngay lập tức sau đó có tiến độ giảm dần. Sang năm thứ 5 hoặc tối đa năm thứ 16 sẽ giảm toàn bộ về 0% vì Việt Nam là nước đi sau các nước khác và đang còn nhiều vướng mắc thách thức nên các nhà đàm phán Việt Nam kiên trì đưa ra lộ trình ban đầu có lợi cho ngành dệt may Việt Nam để ngành từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa cũng như đầu tư vào các yêu cầu của TPP về quy tắc xuất xứ vải sợi.

Ngoài ra, còn có cơ chế 1 đổi 1 giữa Việt Nam – Hoa Kỳ đối với quần nam, nữ bằng vải bông xuất khẩu sang Hoa Kỳ có xuất xứ từ Hoa Kỳ. 1 đơn vị thì được phép sử dụng 1 đơn vị vải bông nhập khẩu từ khu vực ngoài TPP để may quần xuất khẩu sang Hoa Kỳ và hưởng thuế suất 0%. Thêm vào đó, 3 mặt hàng được áp dụng quy tắc xuất xứ 1 công đoạn, cắt may là vali, túi xách – áo ngực phụ nữ – quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp. Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam cũng không thể ỷ lại vào những quy định này vì như vậy chúng ta sẽ mãi gia công là chính và và không thoát khỏi bẫy sản xuất với GTGT thấp.

ảnh 2

Ông Nguyễn Xuân Dương: Đó là cơ hội trong 194 HS và chỉ có 8 HS chúng ta phải thay thế, chiếm khoảng 24%. Chúng ta cần phải tận dụng nguồn lợi thế này mà TPP cho chúng ta. Chúng ta phải tận dụng điều này để đưa công nghệ phát triển hơn. Chúng ta cần phải tận dụng những điều chúng ta đang có. Quần Âu xuất khẩu sang Mỹ chiếm một lượng khá lớn, trong khi ta lấy bông từ Mỹ. Khi ta nhập khẩu thuế suất bằng 0, đây là cơ hội của chúng ta. Ta không nên lo quá các tập đoàn lớn vào chúng ta để chiếm hết thị phần của chúng ta. Ta cần biết các tập đoàn đó chỉ nhằm vào những nguồn hàng đơn giản như sơ mi nam và các loại sợi đơn giản bởi họ không có thị trường trong khi Việt Nam chuyên làm những mặt hàng phức tạp như áo jacket trong khi doanh nghiệp Hàn Quốc thì không làm được như ta. Lợi thế của chúng ta là tâm lý của người Việt, chúng ta hiểu hơn nên chắc chắn chúng ta thắng họ. Chúng ta không nên quá bi quan khi cho rằng họ vào đây để chiếm hết thị phần của chúng ta.

Ông Vũ Huy Đông – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đam San: Thực ra đối với ngành nào thì mức độ thuế quan cũng có tác động rất lớn. Theo tôi doanh nghiệp quan tâm không nhiều, truyền thông cũng không sâu. Hiện cũng có nhiều FTA khác như FTA Trung Quốc – Nhật bản – Hàn Quốc có thuế suất bằng 0, do đó khi bán hàng vào các nước này thì chúng ta sẽ được lơi về thuế. Thuế quan có tác động nhiều. Khi tôi làm việc với các doanh nghiệp Trung Quốc và những doanh nghiệp các nước ngoài TPP thì họ bàn rất kỹ về TPP. Các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ gặp khó khăn khi TPP được ký kết, do đó họ đang bàn với Chính phủ để đưa ra biện pháp cải thiện vấn đề. Ngành dệt may nói là lớn nhưng chủ yếu là nhập khẩu nguyên phụ liệu nên lợi nhuận không cao, do đó đây là cơ hội để chúng ta chuẩn bị. Tuy nhiên lộ trình là “con dao hai lưỡi” nếu kéo dài thì doanh nghiệp sẽ ỷ lại, tìm cách lách luật khi nhập khẩu nguyên phụ liệu. Do đó chúng ta cần phải tập trung đầu tư để vào TPP một cách nghiêm túc.

7

Ông Nguyễn Xuân Dương: Chúng ta đang lấy nguồn nguyên liệu chủ yếu từ Trung Quốc. Người ta không muốn bỏ tiền vào một túi mà người ta muốn chia ra. Vì vậy người ta muốn Việt Nam phải chia nguồn nhập khẩu ra. Chúng ta có nên hoàn chỉnh một sản phẩm hay không hay? Cách tốt nhất là chia ra ai làm tốt vấn đề gì thì làm vấn đề đó. Chúng ta tại sao chưa có tên trên trường quốc tế và chúng ta có tên hay không? Trung Quốc hiện nay mới có 2 thương hiệu quốc tế. Nên chúng ta cũng cần phải có một thương hiệu lớn. Chúng ta cần tìm lấy cái lợi thế của mình. Chúng ta tính toán làm thế nào để sản xuất ở Việt Nam với giá thành ít nhất. Chúng ta cần phải tìm ra cái lợi để chúng ta làm. Chúng ta đã tăng trưởng gấp 12 lần khi tham gia vào WTO. Chúng ta lấy hiệu quả để áp dụng vào TPP chứ không phải vào đó theo phong trào.

Chủ tọa:

– Một chuyên gia Mỹ từng bình luận: “Người Mỹ không thích người khác được hưởng lợi trên khả năng đàm phán của Việt Nam”. Chúng ta đang có nguyên tắc cộng gộp, liệu điều này ảnh hưởng đến DN Việt Nam ra sao? Mặt khác, chúng ta có thể thoát được nguồn cung từ bên ngoài để đảm bảo nguyên tắc nội khối hay không?

Ông Trương Văn Cẩm: TPP thực ra không quy định một cách cứng nhắc cho các nước thành viên mà giữa các nước thành viên đưa ra quy định để cùng theo. Ví như Mỹ ngay khi TPP có hiệu lực đã giảm thuế xuống 0%; Canada có 100% mặt hàng dệt may hưởng thuế suất 0% vào năm thứ 4; Mexico quy định tối đa đến 16 năm để tất cả các thuế suất về 0. Tùy các nước cụ thể mà quy định mức thuế theo các năm. Các mặt hàng nhạy cảm, không sản xuất được trong TPP nằm trong nhóm nguồn cung thiếu hụt; còn mặt hàng có thể sản xuất trong 5 năm thì sau 5 năm mới phải chịu thuế. Về nguyên tắc nội khối. Hiện ngành dệt may đang rất yếu về vấn đề này. Ngay cả giảm xuống 10% cũng khó vì sợi đang phải nhập từ nước ngoài. Như vậy nếu chúng ta nhìn vào số lượng này thì thấy Việt Nam cần phải cố gắng rất lớn.

Chủ tọa:

– Không chỉ các DN trong nước, bản thân các chính sách hỗ trợ đều phải hướng tới nguyên tắc nội khối để đảm bảo được những cơ hội được thực hiện một cách hiệu quả. Quan điểm của anh Đông – đơn vị sản xuất nguyên liệu của ngành may như thế nào?

2

Ông Vũ Huy Đông: Về cung cấp nội khối, như ý kiến anh Cẩm nói, trong các nước TPP thì chúng ta thấp nhưng về ngành dệt may thì chúng ta có sự phát triển cao. Về sợi Việt Nam, đây là 1 trong những nước đứng thứ 5 về thế giới, các chủng loại sợi đều sản xuất được hết, nhưng tại sao lại không đưa vào ngành dệt may phát triển được? Chúng ta đều sản xuất được các mặt hàng và chúng ta xuất khẩu chủ yếu sợi (80%), đây là “nút thắt cổ chai” cần giai quyết. Tẩy nhuộm hoàn tất sẽ ô nhiễm tới môi trường, đòi hỏi trình độ của người lao động phải cập nhật được công nghệ mới.

Để đáp ứng xuất xứ về TPP thì chúng ta cần đầu tư vào ngành dệt và ngành tẩy nhuộm, tuy nhiên ngành dệt cần kết hợp sợi và may nhưng hiện nay hai ngành này vẫn chưa kết hợp được. Đây là vấn đề khó giải quyết. Do đó Chính phủ và doanh nghiệp cần kết hợp để giải quyết bởi cứ đi nhập khẩu sẽ không mang nhiều lợi nhuận, cần đầu tư và nghiên cứu chuyên sâu về dệt và sợi.

Trong thực tế, ngành dệt còn đầu tư thô sơ và lạc hậu, để không còn tình trạng xuất khẩu sợi thì theo tôi thứ nhất phải đầu tư vào dệt, nhất là ngành may, và kết hợp với ngành sợi, đây là cách nhanh mà không cần ngoại tệ. Thứ 2, máy móc hiện đa số lỗi thời, không có năng suất, do đó cần sự đầu tư về máy móc bài bản, hiện đại.

Ông Nguyễn Xuân Dương: Tại sao chúng ta lại bán sợi đi, rồi có khi lại nhập về. Đó là quy định của thị trường. Nếu có đủ năng lực để làm từ a đến z thì chúng ta có thể làm được. Chúng ta làm được hết, nhưng do không có đầu ra nên chúng ta vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Tại sao người ta không đầu tư sợi vào Việt Nam bởi có quá nhiều vấn đề về môi trường cần xử lý. Nước ta không thế xử lý được nước thải. Họ có đến để đầu tư nhưng giá một khối nước của chúng ta quá cao. Bên cạnh đó chúng ta cũng đặt yêu cầu quá cao đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Vấn đề cơ chế chúng ta cần phải xem lại bởi muốn tham gia vào TPP thì cơ chế của ta cũng phải giống họ.

HVS_8162

Tác động và cách thức đối mặt

Chủ tọa:

– Thưa ông Vương Đức Anh, là người trực tiếp tham gia đàm phán cho lĩnh vực dệt may, ông có thể lý giải những nội dung: vì sao lại có chương riêng về dệt may, cắt giảm thuế quan, quy tắc xuất xứ… từ góc độ thành viên đoàn đàm phán TPP?

Ông Vương Đức Anh – Trưởng phòng Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương: Trong cả hiệp định TPP vì sao thành chương riêng?. Hiệp định TPP là hiệp định thương mại tự do đầu tiên Việt Nam tham gia có chương riêng về dệt may. Đây là câu chuyện dài trong đàm phán và được xuất phát ban đầu từ đề xuất của phía Hoa kỳ vì ở đây mặt hàng này rất nhạy cảm đối với họ. Trong tất cả các FTA Hoa Kỳ đã ký với đối tác trước đây, dệt may đều được quy định thành chương riêng. Trong khi đối với Việt Nam thì dệt may là mặt hàng có lợi ích cốt lõi trong đàm phán và do đó đàm phán diễn ra lâu dài và khó khăn. Sau nhiều phiên đàm phán, các nước đã thống nhất có chương riêng về dệt may, ngoài việc áp dụng các quy định chung như các hàng hóa khác trong các chương Thương mại hàng hóa, Quy tắc xuất xứ, phòng vệ thương mại, Hợp tác hải quan, dệt may có những quy định riêng mang tính đặc thù.

Về quy tắc xuất xứ: trong TPP yêu cầu quy tắc 3 công đoạn từ khâu kéo sợi trở đi. Điều này đặt ra khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam do đa số vải chúng ta phải nhập khẩu từ bên ngoài. Tuy nhiên quy tắc này cũng giúp cho ngành có cơ hội phát triển bền vững. Về ngắn hạn có thể gây khó khăn khi chưa tự chủ được nguồn nguyên liệu tuy nhiên về lâu dài thì sẽ giúp ngành dệt may phát triển theo chiều dọc, khuyến khích đầu tư vào dệt -sợi- vải- nhuộm hoàn tất. Thực tế không chỉ đàm phán xong các doanh nghiệp mới biết về quy tắc này mà trong quá trình đàm phán, ngay từ những ngày đầu đàm phán về dệt may, Hiệp hội dệt may, Tập đoàn dệt may đã tham gia cho ý kiến sâu sát, phối hợp chặt chẽ cùng đoàn đàm phán để có những đàm phán có lợi cho ngành. Về thuế: khi vào TPP các dòng hàng dệt may sẽ được giảm rất là lớn theo từng mặt hàng. Đây là cơ hội rất lớn cho sự phát triển của ngành. Cơ hội sẽ không tự biến thành lợi ích nếu tự bản thân doanh nghiệp không tự cố gắng nắm bắt cơ hội.

Với quy tắc từ sợi trở đi thì các doanh nghiệp sẽ nắm bắt như thế nào?Thứ nhất, về nguồn cung thiếu hụt thì trong 194 mặt hàng thì có 186 mặt hàng được áp dụng vĩnh viễn, trong đó 8 mặt hàng được áp dụng trong vòng 5 năm. Kết cấu của nguồn cung thiếu hụt này thì các doanh nghiệp cần tìm hiểu sâu hơn có thể tìm ra cơ hội tốt cho mình. Đối với nguồn cung thiếu hụt khi tìm hiểu kỹ một chút các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh thêm thành phần vào sợi vải để rơi vào danh mục nguồn cung này để hưởng lợi từ TPP.

Thứ hai, cơ chế một đổi một khi xuất khẩu quần nam nữ bằng vải bông xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Đây là cơ chế linh hoạt dành riêng cho Việt Nam. Doanh nghiệp mua 1 đơn vị vải bông thích hợp làm quần có xuất xứ từ Hoa Kỳ sẽ được phép sử dụng một đơn vị vải bông nhập khẩu từ ngoài khu vực TPP để may quần xuất khẩu sang Hoa Kỳ và hưởng thuế từ 0%. Tỷ lệ quy đổi giữa vải bông xuất xứ Hoa Kỳ và vải bông được phép nhập khẩu ngoài khối TPP khác nhau giữa quần nam và quần nữ.

Thứ ba, linh hoạt cho ba nhóm hàng của Việt Nam không áp dụng quy tắc từ sợi trở đi đó là va li túi xách, ô dù; áo ngực phụ nữ và quần áo trẻ em sợi tổng hợp. Tựu chung lại, ngoài quy tắc bắt buộc từ sợi trở đi thì có 3 điểm linh hoạt để các doanh nghiệp dệt may có thể tận dụng thêm cơ hội phát triển. Liên quan tới vấn đề cộng gộp: Hiệp định cho phép các nước thành viên có thể sử dụng nguyên liệu xuất xứ của các nước thành viên. Quy định này giúp cho việc thúc đẩy nội khối phát triển. Chúng tôi hy vọng rằng với quy tắc từ sợi trở đi trong Hiệp định TPP thì ngành dệt may có thể phát triển bền vững và tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Liên quan tới chứng nhận xuất xứ: Hiệp định cho phép doanh nghiệp được chứng nhận xuất xứ, lúc đó doanh nghiệp phải tính đến nghĩa vụ của mình. Việc lưu trữ chứng từ cũng rất cần thiết trong quá trình làm ăn lớn của ngành dệt may khi tham gia vào TPP.

ONG DUONG

Chủ tọa:

– Chúng tôi tổng hợp thấy có 8 vấn đề sẽ xảy ra khi TPP thực thi. Thứ nhất: khó khăn cho lĩnh vực đầu tư, làm sao tăng tỷ trọng nội địa hóa? Thứ hai: Sức ép cạnh tranh của DN FDI? Thứ 3: Những đòi hỏi về tiêu chuẩn mội trường của các nước NK. Thứ 4: tiêu chuẩn lao động (tuyên bố của ILO), công đoàn. Thứ 5: ĐỐi thủ trực tiếp của chúng ta. Thứ 6: Những lo lắng khác: chi phí cho hành chính, xuất xứ, hải quan… Thứ 7: hàng rào kỹ thuật, khả năng phòng vệ? Thứ 8: Cải cách thể chế để phù hợp với cam kết TPP. Đề nghị các ông đưa ra những quan điểm của mình về 8 vấn đề này?

Ông Nguyễn Xuân Dương: Để tận dụng khả năng tối đa khi vào TPP, các doanh nghiệp nên: Thứ nhất: Khai thác những gì mà ta tự có. Thứ hai: Chuẩn bị các nguồn nguyên liệu nội khối mà chúng ta hiện chỉ có 10%. Thứ ba: Vấn đề nội khối, chúng ta chỉ mới lôi kéo được Ấn Độ. Hiện Tập đoàn Dệt may đã có sẵn khu xử lý nước thải và cần kêu gọi đầu tư cơ sở hạ tầng. Khi đàm phán về vấn đề này cần phải đưa ra điều kiện đối tác phải bao tiêu sản phẩm cho chúng ta. Chúng ta chấp nhận phương án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng tiền 10 – 15%. Hiện thể chế của Nhà nước chúng ta không giống ai, chi phí của chúng ta còn quá lớn. Làm thế nào đó trong vòng vài năm tới chúng ta phải cái cách các chế độ hành chính để phù hợp với các nước TPP.

Ông Trương Văn Cẩm: Đúng như ý kiến của anh Anh, TPP cho ngành dệt may nhiều cơ hội lớn nhưng còn nhiều thách thức phải đối mặt. Một số vấn đề đã được các diễn giả đưa ra như: Khai thác thị trường ra làm sao, nguồn cung như thế nào? Còn tôi cho rằng muốn hưởng lợi lớn nhất từ TPP thì từng cấp DN, Hiệp hội phải tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh của DN, quốc gia. Hiệp hội phải làm thế nào để hiểu được nội dung của TPP sau đó phải biết chúng ta đang có lợi thế gì? Cơ hội thách thức ra sao, điểm mạnh, yếu để đưa ra các giải pháp phù hợp.

Hiện nay, điểm yếu của ta là việc liên kết giữa các DN. Chúng ta chưa tìm được khách hàng trực tiếp mà thường xuất khẩu sang trung gian nên họ rất dễ chỉ đjnh chúng ta dùng nguồn nguyên vật liệu của họ. Và khách hàng lớn cũng chỉ định dùng dịch vụ logictis của hãng tàu biển theo yêu cầu của họ… Nước ta liên kết rời rạc còn phía nước ngoài họ gắn kết rất chặt chẽ với nhau. Thậm chí họ bắt tay với nhau để nâng giá và gây khó cho DN. Đứng về phía Hiệp hội, chúng tôi làm cầu nối giữa hội viên với cơ quan quản lý nhà nước.

Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ đẩy mạnh hơn nữa, nắm được các vướng mắc của DN để đề xuất lên cơ quan quản lý. Trong thời gian vừa qua cơ quan quản lý đã tiếp thu phản ánh của chúng tôi với tinh thần cầu thị cao. Sau khi phản ánh thì được sửa ngay. Tôi hy vọng trong thời gian tới dưới sức ép của TPP thì môi trường kinh doanh sẽ được cải thiện hơn nữa.

Ông Nguyễn Xuân Dương: Chúng ta mới chỉ bàn những người khác cho ta. Hiện chúng ta cần phải nói chúng ta làm được gì? Chúng ta làm gia công có sống được không? Nếu chúng ta làm được một cái gì đó tốt thì chúng ta vẫn có thể sống tốt. Lợi nhuận chúng tôi đạt được trên 300 tỷ đồng. Năm vừa rồi chúng tôi đã đạt được kim ngạch xk là 5 triệu USD. Nếu chúng ta làm tốt công đoạn nào đó thì chúng ta vẫn có thể sống tốt. Nếu chúng ta không làm được tất cả các công đoạn thì chúng ta nên làm tốt một công đoạn thì chúng ta vẫn có thể sống tốt.

Chủ tọa:

– Muốn biết lợi thế, thách thức của TPP thế nào, trước hết ta phải tìm hiểu rõ hơn về TPP nhưng DN phải là trung tâm. Trong nhiều năm nay, chúng ta đã chuẩn bị cho cuộc chơi này, các DN có nhiều cách đi theo thị trường của mình, Hiệp hội cũng đã sát cánh cùng DN để có những kiến nghị sửa đối chính sách cho phù hợp hơn nữa. Ở góc độ quản lý nhà nước, đoàn đàm phán cũng đã gắn bó với Hiệp hội, DN, cố gắng tìm kiếm những thỏa thuận có lợi nhất cho các DN Việt… Tuy nhiên các ông chưa đưa ra quan điểm về những đòi hỏi về lao động, khả năng phòng vệ thương mại, chi phí để chứng minh xuất xứ… Đây là vấn đề vướng mắc không hề nhỏ của các DN Việt?

Ông Nguyễn Xuân Dương: Ở đây người lao động đối với TPP có thách thức gì không. Ở Việt Nam, chúng ta vẫn có vấn đề về độ tuổi lao động. Luật Lao động của chúng ta khác với các nước khác. Chúng ta làm quá giờ là lập tức cắt ngay. Những DN XK luôn quan tâm thời gian lao động. Battowor đã phải lơ đi để chấp nhận mặc dù hiện chúng ta đang Theo hướng điều chỉnh là thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Cạnh tranh lao động từ trong nước ra nước ngoài thì chúng ta không có gì lo ngại vì hiện nay lao động của chúng ta hưởng mức cao hơn. Chúng ta vào TPP là cơ hội để đời sống người lao động tốt hơn. DN Việt mới hiểu người dân hơn và chúng ra đang là đối trọng. Lương tối thiểu khác với thực tế. Hiện đang tăng thêm 12 % thì chủ DN không thể chịu đựng nổi. Những doanh nghiệp ngoài vùng hiện đang cố gắng tăng 3 triệu lên 4 triệu. Lương tối thiểu càng lên cao thì thu nhập thực tế người lao động càng giảm xuống.

Bạn Hồ Ngọc Huy (huyk07@gmail.com)

– Theo tôi, TPP tạo áp lực cạnh tranh lớn hơn, buộc mỗi doanh nghiệp may cần thay đổi. Vấn đề chính là nâng cao năng lực sản xuất, cụ thể là quản lý chất lượng hoặc nhân viên thiết kế. Tôi quan tâm và tìm đơn vị hỗ trợ giúp DN chuyển đổi từ hoạt động gia công CMT, hoặc FOB cấp 1, có thể lên FOB cấp 2, cấp 3 – tham gia nhiều hơn vào hoạt động phát triển sản phẩm.

– Tôi có 1 câu hỏi cho ông Trương Văn Cẩm: Hiệp hội có hoạt động cụ thể nào hoặc giới thiệu đợn vị có thể hỗ trợ hoạt động DN nâng cấp từ CMT, FOB cấp 1, lên FOB cấp 2 hoặc cấp 3?

ONG CAM

Ông Trương Văn Cẩm

Ông Trương Văn Cầm: Đúng là dệt may Việt Nam đang gia công xuất khẩu là chính. Gia công chủ yếu ở công đoạn cắt may. Như vậy, chúng ta đang nằm ở phân đoạn có GTGT thấp nhất ở chuỗi cung ứng bởi 70% xuất khẩu theo CMT; 20% là theo FOB 1 và 2; 9% theo hình thức ODM và 1% theo OBM. Các thương hiệu lớn đã được xây dựng hàng trăm năm, ở Việt Nam thì có thương hiệu Nhà Bè là xuất hiện từ lâu. Muốn làm được điều này không thể đi tắt mà phải làm từng bước. Trước hết các DN cần tập trung vào lĩnh vực làm tốt để mở rộng đầu tư máy móc, con người. Không nên đi tắt đón đầu vì sẽ thất bại. Về phía Hiệp hội chúng tôi còn làm cầu nối giữa Nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư và hợp tác với DN Việt Nam (Ví dụ với HH thiết bị DM Đức, Ý, Bỉ, Nhật, Đài Loan, Ấn Độ…), ký kết các bản ghi nhớ hợp tác, trong đó đặt trọng tậm vào công tác đào tạo nguồn nhân lực (thiết kế, quản lý SX, tiếp thị…). Hiệp hội Dệt may cũng đã tổ chức các buổi đào tạo, tập huấn do chuyên gia nước ngoài giảng dạy như Chương trình hợp tác của Bộ Công Thương Nhật Bản và Việt Nam dành cho ngành dệt may, Chương trình đào tạo “An toàn trong thiết kế và bán hàng dệt may vào Mỹ” của Ủy ban an toàn sản phẩm tiêu dùng Hoa Kỳ…

Ông Nguyễn Ngọc Bách – Phó Tổng giám đốc Cty May Việt Thái, Thái Bình:

– DN của chúng tôi đang làm FOB. Cách đây 3 năm chúng tôi rất hào hứng với TPP nhưng với chính sách của Nhà nước, chúng tôi đang mất dần lòng tin với TPP. Đơn cử như các anh chị hỏi, tại sao DN may và DN dệt sợi không gặp nhau? Hiện tại Việt Nam, tầm quy hoạch ngành không đồng đều và các phụ kiện kèm theo không có, di chuyển nguyên liệu quá lâu. Thiết kế của Việt Nam cũng chậm, nếu làm theo FIT thì phải làm theo trực tuyến nước ngoài mà ngoại ngữ Việt Nam quá kém. Hơn nữa, theo tính toán của chúng tôi, nếu gặp được khách hàng của nước ngoài phải mất tới 10 năm nữa mới có thể đảm bảo yêu cầu của khách hàng. Chúng tôi hiện có rất nhiều khách hàng Mỹ, nhưng khách hàng nói là VN hết cơ hội vì lương của VN đang cao hơn nhiều so với các nước rong TPP như Ấn Độ, Băng – la – des. Các chính sách khác cũng vậy, khi giảm thuế xuống 0%, các chính sách khác lại tăng như bảo hiểm, hải quan… Các chính sách rời rạc đang ảnh hưởng rất nhiều tới cách thức tính toán kinh doanh của DN. Mọi thứ đều tăng, nhưng giá đơn hàng cho các khách hàng không thể tăng, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới các DN… Vậy theo các ông, 3 năm nữa điều gì xảy ra?

Hiện các DN đang phải đóng các khoản bảo hiểm cao 22% + 2% kinh phí công đoàn. Trong khi, Malaysia 13%, Indonesia 10%, Philippin 8%,Thái Lan 5%. Sức chịu đựng của DN đã đến hạn, nếu cao hơn nữa DN họ chỉ duy trì sản xuất, thậm chí cắt giảm lao động hoặc một số DN dự định đầu tư lại không đầu tư nữa. Tôi cho rằng cơ chế chính sách không ổn định sẽ gây nhiều hệ lụy.

Ông Trương Văn Cẩm: Trao đổi của anh Nguyễn Ngọc Bách chúng tôi đã nghe và kiến nghị đến Thủ tướng và Quốc hội. Một số đã được giải quyết nhưng một sô vẫn chưa được. Hiện các DN đang phải đóng các khoản bảo hiểm cao 22% + 2% kinh phí công đoàn. Trong khi, Malaysia 13%, Indonesia 10%, Philippines 8%,Thái Lan 5%. Sức chịu đựng của DN đã đến hạn, nếu cao hơn nữa, DN họ chỉ duy trì sản xuất, thậm chí cắt giảm lao động hoặc một số DN dự định đầu tư lại không đầu tư nữa. Tôi cho rằng cơ chế chính sách không ổn định sẽ gây nhiều hệ lụy.

Ông Nguyễn Xuân Dương: Ý kiến của anh Nguyễn Ngọc Bách rất ảm đảm, đất nước đang đối mặt với nợ chi ngân sách và điều đó DN phải chia sẻ. Đất nước mình đang có một số điều làm khó DN. Điều này chính phủ biết nhưng do cơ chế này khó. Vì vậy chúng ta hãy tinh rằng chúng ta sẽ phải làm được.

Ông Vũ Huy Đông: Theo tôi, TPP là một trong những hiệp định cao cấp nhất mang lại nhiều giá trị cho nhiều ngành trong đó có ngành dệt may. Do đó, để tận dụng cơ hội này, ngành dệt may cần tập trung để tháo gỡ các khó khăn đang tồn tại. Đã đến lúc Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Bông sợi và VCCI, Bộ Công Thương cần liên kết mạnh hơn để tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp dêt may. Thực tế, trong điều kiện khó khăn này, doanh nghiệp vẫn đang sống rất tốt, do đó tôi tin chắc rằng TPP sẽ mang lại nhiều cơ hội dành cho ngành dệt may.

Ông Vương Đức Anh: Chúng tôi rất chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp dệt may gặp phải. Nhưng phải nhìn nhận rằng, khi chưa có các Hiệp định thương mại thì kim ngạch xuất khẩu dệt may vẫn tăng trưởng 8% mỗi năm và đây vẫn là ngành mũi nhọn của nền kinh tế. Chúng ta cần chuẩn bị trong hai năm tới để khi hiệp định TPP được thực thi sẽ không gặp phải khó khăn.

Trong tính toán của chúng tôi, Hiệp định TPP có thể tiết kiệm tới 1,1 tỷ đô tiền thuế. Dung lượng hấp thụ thị trường của các nước rất lớn như Hoa Kỳ là 110 tỷ đô, EU là khoảng 100 tỷ đô, Nhật Bản khoảng 42 tỷ đô, trong khi đó của Việt Nam còn thấp. Khi chúng ta tham gia vào hiệp định TPP, Việt Nam – EU, Việt Nam – Liên minh Hải quan sẽ tìm thấy cơ hội gia tăng thị phần. Chính TPP cũng sẽ khiến cho Chính phủ phải thay đổi cách điều hành quản lý và sẽ phải cạnh tranh với Chính phủ khác để làm sao đặt ra hành lang pháp lý để tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp phát triển bền vững Khi tham gia vào TPP đối tác yêu cầu làm hồ sơ rất là rõ ràng. Trước mắt, chúng ta làm gia công để nắm bắt và sau đó mới phát triển tự chủ. Nếu chúng ta vẫn áp dụng quy tắc cắt may thì không biết tới khi nào mới thoát khỏi sự gia công. Với ba hiệp định TPP, Việt Nam – EU, Việt Nam – Liên minh Hải quan đây được xem là “cú hích” thứ 3 cho ngành dệt may sau hai “cú hích” về WTO và hợp tác dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ.

tang hoa

Ban tổ chức tặng hoa cho các khách ời giao lưu

 

Nhóm phóng viên


Nguồn tin: enternews.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 32
  • Hôm nay: 488
  • Tháng hiện tại: 62436
  • Tổng lượt truy cập: 3633490
DN thành viên
HTX Rạch Gầm
Bảo hiểm Bảo Minh Tiền Giang
Cty CP Đầu tư & Xây dựng TG