Doanh nghiệp Việt Nam: Quy luật thị trường và cuộc cạnh tranh mới

Thứ hai - 28/04/2014 09:53

Nhìn lại bức tranh tiến hóa trong một giai đoạn dài vừa qua để phác thảo “cục diện” của doanh nghiệp Việt Nam hôm nay chính là một phần tất yếu và cần có để DN xốc lại tính thần, tự tin vào nội lực bản thân và hy vọng đúng và trọng tâm hơn vào chính sách. Ngay cả bản thân chính sách cũng cần được “tính toán lại”, để hiệu quả hỗ trợ DN ngày càng thiết thực và vững bền hơn. 

 Trân trọng giới thiệu góc nhìn của TS Trần Du Lịch - Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia.


Nền kinh tế VN đã bước qua một giai đoạn bất ổn vĩ mô kéo dài kể từ năm 2008-2013. Bối cảnh đó đã dẫn đến một cục diện có sự phân hóa ba nhóm DN trong nước chính.

Cục diện 3 nhóm

Thứ nhất, là nhóm DN vẫn còn mạnh khỏe. Trải qua quá trình sàng lọc, phần lớn có thể thấy số DN có kinh doanh ổn định, có năng lực quản trị tốt nằm ở nhóm DN xuất khẩu, DN công nghiệp nhẹ như may mặc, da giày, chế biến thủy hải sản, gỗ… Những DN thuộc nhóm này ước lượng chiếm khoảng 1/3 số lượng DN VN hiện nay và có thể ghi nhận đây là những đối tượng đã có đóng góp cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn vừa qua.

Thứ hai, nhóm DN sức khỏe loại vừa, trong đó có một số ít là DN nhỏ. Số DN này hiện nay đang chờ đợi được vực dậy với những hỗ trợ của Nhà nước về tín dụng, đặc biệt về kích cầu để vực lại thị trường và lấy đà phát triển trở lại. Năm 2013 có khoảng 15.000/50.000-60.000 DN thuộc nhóm giải thể, phá sản, đình trệ đã hoạt động trở lại chính là thuộc nhóm DN này.

Hiện nay, các chính sách của Chính phủ cũng ưu tiên và tập trung hỗ trợ vực dậy nhóm DN vừa và một phần nhỏ vẫn còn sức khỏe. Và có thể thấy rõ đa số nhóm DN này nằm trong nhóm 5 lĩnh vực ưu tiên: chế biến nông sản, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, DNNVV, sản xuất hàng xuất khẩu.

Thứ ba, nhóm DN làm ăn kinh doanh không có nền tảng, căn cốt, tay không bắt giặc, chọn sở trường thay cho sở đoản (chẳng hạn không có chức năng kinh doanh bất động sản nhưng lại tập trung đầu tư bất động sản). Dù muốn hay không, phần lớn các DN làm ăn không căn cốt như vậy chắc chắn sẽ bị thị trường đào thải, xử lí. Ngay cả chính sách Nhà nước cũng không thể thay thế thị trường hỗ trợ được nhóm DN thứ ba.

Triển vọng chính sách và hy vọng ưu đãi

Nhờ dựa vào chính sách vĩ mô đưa nền kinh tế dần dần lấy lại ổn định, cơ hội để DN nhóm 1 củng cố vị thế của mình ngày càng tốt hơn. Số DN này cũng có cơ hội mua lại DN khác, đặc biệt nhóm DN 3 để phát triển. Cơ hội này không chỉ là mua lại DN mà bao gồm cả mua lại tài sản giá rẻ do ngân hàng phát mãi. Đây là hướng phát triển tốt của thị trường và là bình thường nếu xét theo đúng quy luật nghiệt ngã của thị trường.

Đối với nhóm DN số 2, sự phục hồi tuy chậm nhưng vẫn đang tiếp tục. Họ cũng đang tiếp tục trông chờ những ưu đãi về thuế, tín dụng và chờ đợi khởi sắc của thị trường để nhanh chóng phục hồi sản xuất kinh doanh.

Điều quan trọng là cuộc khủng hoảng đi qua đã khiến hầu hết các DN thấm thía bài học “tay không bắt giặc” trước sau gì cũng sẽ bị thị trường đào thải. DN đã bắt đầu xốc lại chiến lược kinh doanh, làm ăn bài bản hơn.

Tuy nhiên cùng với đó, cũng phải nhìn nhận rằng thời gian vừa qua và ngay cả hiện nay, những ưu đãi của Nhà nước mà DN mong chờ lại vẫn đang tập trung vào thuế, đất đai và tín dụng. Trong khi đó, điều có thể kích cầu, xốc lại thị trường và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bền vững cho DN lại không chỉ là những yếu tố đó. Vấn đề quan trọng và cần thiết nhất hỗ trợ DN lúc này và cả thời gian tới chính là bộ máy công quyền với các dịch vụ hành chính công phải đổi mới, cải tiến, tái cấu trúc để nhanh chóng chuyển đổi thành những dịch vụ phục vụ DN, đồng hành cùng DN (chứ không phải gây ách tắc, khó khăn).

Ngoài ra, những yếu tố khác khiến chi phí DN, chi phí thời gian gia tăng như phí giao thông, phí cầu cảng, phí kết nối, phí thủ tục… cũng rất cần được quan tâm, nghiên cứu và điều chỉnh một cách có hệ thống. Nói đơn cử, một trong những chỉ số đứng đầu bộ chỉ số cạnh tranh của các tỉnh (PCI) mà VCCI là đơn vị thực hiện khảo sát đã cho thấy chi phí hành chính – cải cách hành chính là yếu tố tiên quyết, hàng đầu trong một môi trường đầu tư mà DN luôn cân nhắc, quan tâm.

Doanh nghiệp Nhà nước và FDI

Ba nhóm DN trong cục diện cộng đồng doanh nghiệp vừa được nêu nói trên, tất nhiên, bao gồm DNNN. Cũng phải nói rằng tuy vẫn còn một bộ phận DN Nhà nước chưa cổ phần hóa, chưa đại chúng, song cơ bản DN nhà nước hiện nay đã và đang cũng phải chịu quy luật thị trường. Chính vì điều đó mà hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN nhà nước cũng đã đến lúc nhìn thấy được hết sức rõ ràng. Thị trường vẫn đang chứng kiến một số DN nhà nước làm ăn bài bản, hiệu quả, có thị trường, có tài chính lành mạnh và liên tiếp mở ra, mua lại các Cty, điển hình như Vinamilk. Nhưng bên cạnh đó, là những DN nhà nước làm ăn thua lỗ, phá sản, bán tài sản cho DN khác, chấp nhận quy luật đào thải nếu không còn cơ hội cấu trúc lại. Nhà nước cũng không thể nâng đỡ lâu dài, “bảo lãnh” cho các DN như vậy.

Một “đối trọng” cho DN VN “soi gương” và lấy lại tinh thần ngay trên thị trường nội địa và tính chuyện thị trường quốc tế, hiện còn có DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Giai đoạn khó khăn của nhiều DN Việt vừa qua cũng là giai đoạn xuất khẩu FDI tăng trưởng rất mạnh. Nếu không tính những hệ lụy chuyển giá và tận dụng ưu đãi đầu tư mà không mang lại hiệu quả cao, những đóng góp ở kim ngạch xuất khẩu tăng đều và mạnh của DN FDI cho thấy hầu hết họ cũng làm ăn tốt, ổn định và phát triển. Vì sao họ làm tốt? Câu trả lời là vì họ có ưu thế chi phí tài chính thấp (vay ngoại tệ ở nước ngoài với lãi suất thấp), có dòng tiền tốt (quản trị tài chính lành mạnh) và họ có sẵn thị trường. Quản trị nhân sự và biết kết nối thị trường cũng là những yếu tố giúp DN FDI tại VN khởi sắc. Trong khi đó, như đã nói, đây lại hầu hết là những điểm yếu của nhiều DN VN.

Với cục diện như vậy, những khó khăn và cơ hội của DN VN giờ đây vẫn đang còn ngay trước mặt. Tuy là khó khăn, nhưng phải nói rằng sự ổn định hiện nay đang tạo nền và chắc chắn để nền kinh tế vĩ mô VN phục hồi. Muốn bắt nhịp được sự phục hồi của nền kinh tế, không lỡ thời cơ, DN phải nhanh chóng tái cơ cấu. Những DN nào không còn sức tái cơ cấu, thì tự cắt bỏ “ung nhọt”, thậm chí chấp nhận xóa DN, đi làm cái mới… đều là những việc nên làm.

Bên cạnh đó, để có được thế mạnh trong kết nối thị trường và tận dụng thời cơ hội nhập với các chính sách thương mại hóa, mở cửa thị trường tự do đã và đang tiếp tục có hiệu lực vào thời gian tới, DN cũng cần sự hỗ trợ rất lớn từ Nhà nước và các Hiệp hội. Thông qua Hiệp hội, Nhà nước hỗ trợ kết nối, xúc tiến thương mại cho DNNVV (Nhà nước không nên làm trực tiếp), tạo cơ chế cho DNNVV tiếp thị, sản xuất kinh doanh gắn với các Tập đoàn, như một cách để lấy “tàu lớn” dẫn  “tàu bé” lướt nhanh. Việc hỗ trợ này lại cần nhấn mạnh, không chỉ và không nên tập trung vào thuế, tín dụng, đất đai, mà nên tính tới những yếu tố cần thiết cho tức thời lẫn bền vững như hỗ trợ nghiên cứu công nghệ, chuyển giao cho DN phát triển, ứng dụng sản xuất, xây dựng khối DNNVV có năng lực phụ trợ vững vàng, đáp ứng đủ cung-cầu trước hết cho nền kinh tế và theo đúng quy luật thị trường. Các quốc gia trong khu vực Asean có nền kinh tế vững vàng như Nhật Bản, Hàn Quốc, để có được ngày hôm nay, có được nền kinh tế với các DNNVV phát triển ổn định như hiện tại, họ đều đã tính toán và phát triển các chính sách hỗ trợ DN dài lâu như vậy. 

Bà Đặng Phương Dung Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may VN: 
Nhiều thủ tục thuế, hải  quan chưa hợp lý

Quy định về Luật Thuế GTGT : Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định  chi tiết và hướng dẫn thi hành mốt số điều Luật thuế GTGT và Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính vướng mắc tại điều 4, Thông tư 219 chưa quy định rõ hoặc chưa tính đến đối tượng “ Hàng xuất khẩu của DN bị trả về hay còn gọi là tái nhập hàng trả lại “ khiến cho hiện nay với thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 để thực hiện đúng thủ tục hải quan với “hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất và hàng xuất khẩu bị trả về khiến DN đang phải chịu nhiều chi phí, phải đóng thuế ngay (gồm thuế NK và VAT luôn) hoặc phải có bảo lãnh ngân hàng cho 2 loại thuế này làm tăng thêm khó khăn cho DN.

Bên cạnh đó, một số văn bản quy định mà các DN đang vướng mắc, chẳng hạn Thông tư số 128/2013/TT-BTC đang có nhiều vướng mắc tại điểm a mục 2 điều 127 về thời hạn nộp hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế 60 ngày kể từ ngày mở tờ khai hải quan nhập khẩu cuối cùng mặc dù vẫn còn thời gian ân hạn thuế 275 ngày cho nguyên phụ liệu nhập khẩu sản xuất xuất khẩu… Công văn số 1767/BTC-TCHQ; Thông tư 02/2014/TT-BTC quy định về địa điểm tập kết hàng hóa, thời điểm mở tờ khai mặc dù đã có công văn hướng dẫn thực hiện, tháo gỡ bớt khó khăn cho các DN có đăng ký mã kho của DN với cơ quan hải quan, tuy nhiên hiện tại các hãng tàu, đại lý giao nhận đã ban hành các văn bản yêu cầu thời gian tập kết hàng phải sớm hơn so với các quy định trước đây...

Ông Phạm Ngọc Hưng - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội DN TP HCM (HUBA): Chính sách cần đồng bộ hơn

Luật đất đai hiện có quá nhiều bất cập gây cản trở DN, từ tiền sử dụng đất cho đến tiền thuê đất luôn ở mức quá cao. Tại một số địa phương từ năm 2011 đến nay đã tăng lên gấp 3 lần mà không áp dụng vào nghị định của Chính phủ là giảm 50% giá thuê đất, tùy vào vị trí và mục đích sử dụng đất. Có văn bản ban hành năm 2013 nhưng lại “hồi tố” từ những năm trước đó đã mang tâm lý tận thu ngân sách, làm cho DN điêu đứng.

Vốn vay lãi suất thấp của các tổ chức tín dụng cũng khó đến với các DNNVV. Theo thống kê của HUBA, chỉ khoảng 15% số DN nhỏ tiếp cận được vốn vay lãi suất thấp của ngân hàng, còn lại phải chấp nhận ở lãi suất vay trên 13% trong khi sức mua của thị trường kém, hàng tồn kho cao, ngân hàng không cho đảo nợ và không giảm lãi suất nợ cũ theo như chỉ đạo của Chính phủ đã làm cho DN đã khó càng thêm khó khăn hơn. Đa phần hiện nay hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN ở tầm ngắn hạn, nhiều DN giảm kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2014 để bảo toàn vốn và hạn chế nguồn vốn vay ngân hàng.

Có thể nói, chính những bất cập, thiếu đồng bộ, thiếu kiên quyết đã làm cho nhiều chủ trương chính sách đi vào thực tiễn chậm phát huy tác dụng, cụ thể: Nghị quyết 13/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường; Nghị quyết 02 tiếp tục hỗ trợ cho DN, kiềm chế lãi suất, giải quyết nợ xấu; Hay gói tín dụng 30.000 tỷ đồng... Đây là những văn bản đã được các DN chờ đợi, nhưng khi ban hành thì lại “kẹt” ở khâu cách xác định đối tượng được hỗ trợ nên tác dụng hỗ trợ DN hầu như rất hạn hẹp. Gói tín dụng 30.000 tỷ đồng được giới DN bất động sản kỳ vọng nhưng đến nay mới giải ngân được 4%...
 

Mỹ Ý lược ghi

Nguồn tin: DĐDN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 552
  • Tháng hiện tại: 13171
  • Tổng lượt truy cập: 5440289
DN thành viên
HTX Rạch Gầm
Cty CP Đầu tư & Xây dựng TG
Mobifone

Thủ tục tham gia

Ebook "Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp"

 Tải về Ebook "Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp"


Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật của Tiền Giang

Nhằm giúp cho các doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc nắm bắt các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp. 
Trong cuốn sách điện tử này, chúng tôi đã tập hợp các văn bản pháp quy thuộc gần 50 bộ Luật, Luật có liên quan mật thiết đến hoạt động của doanh nghiệp và sắp xếp thành 41 thư mục chính để thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu. Chúng tôi tin tưởng rằng đây sẽ là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho mỗi doanh nghiệp trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Toàn cảnh Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2018