CẤM DN LẬP 2 HỆ THỐNG SỔ KẾ TOÁN: CẦN LOẠI BỎ CHI PHÍ KHÔNG CHÍNH THỨC

Thứ hai - 30/11/2015 08:44

Tình trạng DN lập 2 hệ thống sổ kế toán hiện nay khá phổ biến. Đây là một trong những hành vi bị cấm tại Luật Kế toán (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, để quy định cấm trên đi vào cuộc sống ngoài ban hành luật còn cần rất nhiều vấn đề phải giải quyết.

3

Quốc hội biểu quyết thông qua dự án Luật kế toán (sửa đổi) với 79,15% đại biểu tán thành

Nếu nói một cách sòng phẳng thì việc DN lập 2 hệ thống sổ sách kế toán chính là để gian lận. Mà hình thức gian lận này dù với mục đích trốn thuế, vay vốn ngân hàng hay để đấu thầu đều là hành vi bị cấm tại các luật chuyên ngành như Luật Quản lý thuế, Luật Đấu thầu hay Luật Các tổ chức tín dụng. Câu hỏi đặt ra, hành vi gian lận này một lần nữa được khẳng định trong Luật Kế toán (sửa đổi) thì liệu nó có thể được ngăn chặn, hay phải “gia cố thêm” các điều kiện thi hành?

Phải giải quyết từ gốc  vấn đề

Chúng ta có thể bắt đầu từ câu hỏi vì sao DN phải lập 2 hệ thống sổ sách kế toán? Trong khi, DN nào cũng biết lập 2 hệ thống sổ sách kế toán là hành vi gian lận và phải đối diện với sự trừng phạt của pháp luật. Bởi vì, các Luật Quản lý thuế, Luật Đấu thầu hay Luật Các tổ chức tín dụng đều có chế tài xử phạt, thậm chí rất nặng đối với hành vi gian lận trên.

Theo các DN, tùy từng mục đích sử dụng, việc lập 2 hệ thống sổ sách kế toán sẽ được DN “chế biến” khác nhau. Dạng phổ biến nhất là để trốn thuế, DN lập hai bộ sổ sách: một để nội bộ DN kiểm tra tự biết với nhau (phản ánh đúng số lỗ – lãi). Hai là sổ để báo cáo cơ quan thuế, sổ này luôn ở dạng lãi ít hoặc lỗ. Lý giải cho việc làm trên, đại diện của một số DN cho biết, có rất nhiều loại chi phí không thể đưa vào sổ sách kế toán như chi phí không chính thức khi thực hiện thủ tục hành chính, chi hoa hồng, “lại quả” cho khách hàng. Để bù đắp được những chi phí “khó công bố” trên, DN buộc phải lập hệ thống sổ sách khác và khi đã mất công lập thì “tiện thể” giảm luôn lãi cho về “mo” hoặc lãi không đáng kể.

Ông Đặng Văn Thanh – Phó Chủ tịch Hiệp hội kế toán và kiểm toán Việt Nam chỉ ra nhiều biểu hiện gian dối về tài chính của DN. Một “chiêu” thông thường là giấu sản lượng hàng trên hóa đơn đầu vào và đầu ra. Trên sổ sách báo cáo thuế, DN có thể sẽ rút bớt sản lượng. Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất, DN sẽ “vẽ” thêm nhiều chi phí như tiếp khách, đi công tác, sửa chữa phương tiện, phí đào tạo, phí quản lý của nước ngoài… Để hợp thức hóa chứng từ, họ sẽ lấy hóa đơn có chi phí cao hơn thực tế, thậm chí là mua thêm hóa đơn. Bằng cách này, báo cáo tài chính của DN luôn cho thấy chi phí rất lớn, dẫn tới lãi ít hoặc lỗ để giảm tiền nộp thuế. Theo ông Thanh, tình trạng “hai sổ sách” đã tồn tại trong DN từ lâu, gây thất thu lớn cho ngân sách.

Nhưng để vay vốn ngân hàng hoặc tham gia đấu thầu, DN lại có cách “chế biến” khác. Sổ sách lúc này thì rất “đẹp” có lãi, khả năng thanh toán tốt, không có nợ đọng. Từ sản lượng hàng hóa cần mua được khai tăng lên vài chục %, thậm chí cả 100%, đến lượng vốn cũng được khai khống khi lập hồ sơ đấu thầu. Cuối cùng, tình trạng thiếu minh bạch trong hệ thống sổ sách kế toán DN đã được nhiều chuyên gia, nhiều nghiên cứu của VCCI, WB, VBF… chi ra như một hạn chế rất khó vượt qua, trong nhiều năm qua.

Luật Kế toán (sửa đổi) sẽ có hiệu lực pháp luật từ 1/1/2017.

Để luật sớm đi vào cuộc sống

Tuy nhiên một thực tế đặt ra là phải làm gì để quy định cấm trên của Luật Kế toán (sửa đổi) thực sự phát huy hiệu quả?

Một số chuyên gia nhận xét, muốn DN minh bạch thì trước tiên các hoạt động cung cấp dịch vụ công, như thủ tục hành chính phải thật công khai minh bạch và thuận lợi cho DN. Những chi phí không chính thức đối với thủ tục hành chính phải được loại bỏ hoàn toàn. Từ đấu thầu đến vay vốn tín dụng cũng phải thật sự công khai. Những chi phí “dưới gầm bàn”, chi hoa hồng, “lại quả” phải được kiểm soát. Đây chính là những điều kiện cần cho sự minh bạch của DN nói chung, sổ sách kế toán nói riêng.

Theo ông Nguyễn Quang Vinh – Phó Tổng thư ký, Giám đốc Văn phòng DN vì sự phát triển bền vững của VCCI, minh bạch trong DN là vấn đề đang nhận được nhiều quan tâm hiện nay và được xem là công cụ để phòng, chống tham nhũng hữu hiệu. DN được nhìn nhận là bên cung tham nhũng, còn chính quyền là bên cầu tham nhũng. Thúc đẩy thực hiện liêm chính trong kinh doanh là cơ hội để DN cải thiện môi trường kinh doanh, giúp DN nhận được sự tin cậy của đối tác. Đồng thời, người lao động sẽ gắn bó hơn với DN, từ đó góp phần tạo ra sự phát triển bền vững cho DN.

Nhiều DN luôn trong tình trạng khai thấp doanh thu, tăng chi phí để hòng giảm lợi nhuận, từ đó giảm khoản thuế thu nhập DN phải nộp cho ngân sách Nhà nước. Từ đó nảy sinh chuyện thường gặp là cảnh thỏa hiệp vào mùa tính thuế, khiến môi trường kinh doanh không minh bạch, hình ảnh tài chính DN bị bóp méo, cổ đông không được thông tin đầy đủ về giá trị, khả năng tạo lợi nhuận của DN.

Chuyên gia của Tổ chức Hướng tới minh bạch tại Việt Nam – ông Phạm Ánh Dương cho rằng, thúc đẩy liêm chính và thực hành minh bạch là một thách thức lớn, cần có sự tham gia của các bên như Nhà nước (trong hoạch định chính sách), DN… Hiện không ít DN tỏ ra băn khoăn rằng: Nếu không hối lộ, “chạy dự án”, “đi đêm”… thì làm sao có việc làm, làm sao tồn tại và cạnh tranh được với các đối thủ khác? Tuy nhiên, cũng đã có không ít DN lo ngại rằng, tham nhũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của công ty mình. Theo một khảo sát của Tổ chức Hướng tới minh bạch tại Việt Nam, 60% người dân sẵn sàng chi thêm cho DN có hoạt động minh bạch, liêm chính. Ông Dương cho rằng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, ngày càng có nhiều DN đi theo hướng minh bạch, liêm chính và nếu DN không tuân thủ thì tất yếu sẽ bị đào thải.

Việc quy định điều kiện, tiêu chuẩn về đạo đức và nghiệp vụ của kế toán viên, người được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán, DN cung cấp dịch vụ kế toán cũng liên quan rất nhiều tới quá trình minh bạch của DN. Khi DN chưa thể minh bạch thì những điều kiện, tiêu chuẩn của cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán cũng khó có thể đáp ứng được yêu cầu, mặc dù, Luật Kế toán (sửa đổi) quy định những vấn đề này khá chi tiết và nhận được sự đồng tình cao.

Phải tạo điều kiện hơn cho DN

 

do van ve copy

ĐBQH Đỗ Văn Vẻ – Đoàn ĐB tỉnh Thái Bình

Trong thực tiễn chứng từ kế toán, có hóa đơn thường được các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quản lý thị trường, công an xem xét đối chiếu khi tiến hành thanh tra, kiểm tra lại đơn vị hoặc kiểm tra hàng hóa đang lưu thông trên đường. Không ít trường hợp giao dịch điện tử của DN phải làm thủ tục chuyển đổi sang chứng từ, văn bản giấy để phục vụ cho các cơ quan có chức năng kiểm tra, thanh tra, từ đó gây tốn kém thời gian, thủ tục phiền hà. Từ thực tiễn này tôi cho rằng, trường hợp nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi nhận bằng phương tiện điện tử thì chứng từ điện tử có đầy đủ giá trị như chứng từ giấy trong việc ghi sổ kế toán, lưu trữ phục vụ thanh tra, kiểm tra. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra phải sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện nhiệm vụ, không cần bắt buộc DN phải chuyển đổi sang chứng từ giấy.

Về quy định kiểm tra kế toán, thời gian tiến hành một cuộc kiểm tra kế toán quy định tại Điều 37 là không quá 10 ngày, đây là khoảng thời gian quá dài, không phù hợp với chủ trương của Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành. Dẫn chiếu sang Luật quản lý thuế cho thấy thời hạn tiến hành một cuộc kiểm tra thuế tại trụ sở DN không quá 5 ngày làm việc. Thời gian tối đa kiểm tra rút ngắn xuống còn tối đa không quá 5 ngày làm việc thì hợp lý hơn. Trường hợp có nội dung phức tạp cần có thời gian để đối chiếu, kết luận thì được gia hạn thêm, nhưng tổng thời gian tối đa không quá 10 ngày làm việc.

Về quy định những người không được làm kế toán. Tại Điều 53, Khoản 3 Luật quy định những người không được làm kế toán: “3. Bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị em ruột của người đại diện theo pháp luật của GĐ, TGĐ và Phó GĐ, Phó TGĐ phục trách công tác tài chính, kế toán, kế toán trưởng trong cùng một đơn vị kế toán, ngoại trừ DN tư nhân và hộ kinh doanh”. Trong thực tiễn, có không ít DN là công ty TNHH 2 thành viên trở lên do những người thân cùng lập ra, như anh, chị, em ruột luật không cấm và con cháu họ cũng có thể làm kế toán. Đây là vấn đề còn nhiều băn khoăn trong thực tiễn.

Bổ sung các hành vi bị cấm nhưng phải tạo điều kiện hành nghề kế toán

Huỳnh Văn Tính copy

ĐBQH Huỳnh Văn Tính – Đoàn ĐB tỉnh Tiền Giang

Tôi đã đề nghị luật cần có những quy định cụ thể và chặt chẽ hơn đối với hành vi là bản thân người làm kế toán giả mạo, khai man, tẩy xóa chứng từ kế toán, hóa đơn, các tài liệu kế toán khác và hành vi người làm kế toán thỏa thuận hoặc ép buộc người khác thực hiện hành vi nói trên nhằm đảm bảo việc chế tài xử lý mới cho phù hợp với hành vi phạm tội. Đồng thời, tôi đề nghị xem xét bổ sung các hành vi bị cấm khác như lập hai hệ thống kế toán tài chính trở lên, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề kế toán, dịch vụ kế toán mà không đăng ký theo quy định pháp luật các hành vi khác về kế toán mà pháp luật nghiêm cấm.

Luật quy định về điều kiện để công dân Việt Nam được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán là quá khắt khe và không cần thiết đối với ngành nghề này. Theo tôi tốt nghiệp trình độ đại học là không cần thiết mà chỉ cần cao đẳng trở lên cũng có thể thực hiện được. Ngoài ra, về 3 năm kinh nghiệm là thừa, thực sự khó khăn cho một số cá nhân để được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. Xét một số ngành nghề cần chứng chỉ kế toán khác như luật sư cũng không yêu cầu cần thiết về thời gian làm việc thực tế quá nhiều. Bởi nghề kế toán cũng giống ngành nghề khác trong xã hội, thậm chí đơn thuần là thao tác hạch toán chỉ cần chính xác, tỉ mỉ, khoa học và có đào tạo là được. Không nhất thiết phải có quá nhiều kinh nghiệm trước khi được cấp chứng chỉ hành nghề. Với những DNNVV chỉ cần cao đẳng trở lên cũng làm được.

Về chuẩn mực về kế toán, cơ chế nước ta có sự thay đổi theo cơ chế thị trường, sự quản lý của nhà nước. Mặt khác, chúng ta đã gia nhập các hiệp định quốc tế, do đó chuẩn mực kế toán quốc tế có nhiều thay đổi, vì vậy trong luật này nên bổ sung thêm các quy định cụ thể về chuẩn mực kế toán. Đây là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, chuẩn mực quan trọng trong áp dụng cho người làm kế toán.

Bá Tú

Nguồn tin: enternews.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 8
  • Hôm nay: 275
  • Tháng hiện tại: 21944
  • Tổng lượt truy cập: 5523179
DN thành viên
HTX Rạch Gầm
Cty CP Đầu tư & Xây dựng TG
Mobifone

Thủ tục tham gia

Ebook "Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp"

 Tải về Ebook "Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp"


Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật của Tiền Giang

Nhằm giúp cho các doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc nắm bắt các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp. 
Trong cuốn sách điện tử này, chúng tôi đã tập hợp các văn bản pháp quy thuộc gần 50 bộ Luật, Luật có liên quan mật thiết đến hoạt động của doanh nghiệp và sắp xếp thành 41 thư mục chính để thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu. Chúng tôi tin tưởng rằng đây sẽ là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho mỗi doanh nghiệp trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Toàn cảnh Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2018