Trả lời phản ánh tình hình khó khăn và kiến nghị của doanh nghiệp

Thứ hai - 29/09/2014 14:21
Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tại Thông báo số 16/TB-UBND ngày 10/2/2014 để chuẩn bị cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng chương trình tổ chức tiếp cận, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh đã có công văn yêu cầu các doanh nghiệp phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh, thuận lợi, khó khăn và kiến nghị.

Ngày 04/3/2014, Hiệp hội đã tổng hợp các kiến nghị và có văn bản kiến nghị đến Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét giải quyết.

Ngày 18/9/2014, Hiệp hội nhận được công văn số 4563/UBND-TCTM của Ủy ban nhân dân tỉnh v/v trả lời, giải quyết các kiến nghị, phản ánh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hiệp hội chuyển trả lời cụ thể của UBND tỉnh đến các doanh nghiệp có phản ánh kiến nghị biết, thực hiện.

  1. Trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Tiền Giang:

  Đề nghị có sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc tăng cường hợp tác,  phối hợp giữa doanh nghiệp và trường đào tạo nghề trong sản xuất và đào tạo như: tổ chức chuyển giao công nghệ, thi nâng bậc cho công nhân, hợp tác nghiên cứu, tạo điều kiện cho giáo viên đến doanh nghiệp để tham gia học tập, sản xuất theo quy trình công nghệ mới nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho giáo viên, doanh nghiệp cùng tham gia với nhà trường trong việc xây dựng chương trình, giáo trình ngày càng sát với hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ của doanh nghiệp, doanh nghiệp gửi chỉ tiêu đào tạo tại chỗ cho nhà trường để có kế hoạch đào tạo, doanh nghiệp tham gia “ngày hội việc làm” hàng năm do nhà trường tổ chức, tạo điều kiện cho học sinh thực tập và việc làm sau khi tốt nghiệp.

* Ý kiến trả lời như sau:

Ngày 30 tháng 7 năm 2014, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang đã gửi công văn số 794/SLĐTBXH-DN về tình hình thực hiện xã hội hóa dạy nghề. Trong công văn đó Sở đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp sau:

Nhu cầu của xã hội về dạy nghề ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà n­ước có hạn, chỉ có thể đáp ứng được các nhu cầu cơ bản, vì vậy tiếp tục đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia vào cung cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ trong các lĩnh vực dạy nghề là yêu cầu khách quan từ thực tiễn. Đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế, chính sách xã hội hóa dạy nghề để quá trình xã hội hóa bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vừa khuyến khích các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia, đồng thời đẩy mạnh mở rộng các loại hình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Hiện tại các trường trung cấp, cao đẳng nghề công lập đã hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Đến năm 2017, đưa 50% khấu hao tài sản vào học phí đối với sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, chuyển 3 trường, trung tâm dạy nghề công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ; đến năm 2020 chuyển phần lớn cơ sở dạy nghề công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ.

- Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành chính sách, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh định hướng đến 2020;

- Tính đủ chi phí đào tạo vào học phí, kể cả chi phí khấu hao tài sản, để các cơ sở dạy nghề có thể tái đầu tư và mở rộng quy mô đào tạo, không tạo khoảng cách về mức học phí giữa cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập.

- Đối với các Trung tâm Dạy nghề nếu hoạt động không hiệu quả thì cho thuê để các đơn vị ngoài nhà nước tổ chức dạy nghề theo nhu cầu xã hội.
- Nhà nước đặt hàng chỉ tiêu đào tạo thông qua đấu thầu đối với những nghề, số lượng lao động kỹ thuật tỉnh cần để phục vụ cho những mục tiêu phát triển của tỉnh. Các cơ sở dạy nghề phải tham gia đấu thầu trên cơ sở năng lực, chất lượng đào tạo và mức chi phí hợp lý, không phân biệt công lập, ngoài công lập.

- Hình thành đơn vị đánh giá kỹ năng nghề cho người lao động để cấp chứng nhận kỹ năng nghề cho người lao động, không phân biệt hình thức học, cơ sở đào tạo. Các doanh nghiệp tuyển dụng lao động trên cơ sở chứng nhận kỹ năng nghề của người lao động, không chỉ căn cứ vào bằng, chứng chỉ nghề do các cơ sở dạy nghề cấp. Từ đó khuyến khích các các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nghề, cơ sở dạy nghề phải tự nâng cao chất lượng đào tạo để thu hút người học.

- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dạy nghề cho người lao động để làm việc tại doanh nghiệp, doanh nghiệp có đủ điều kiện thì thực hiện theo chính sách hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn.

- Tăng mọi nguồn lực cho phát triển đào tạo nghề, phấn đấu tăng tỷ trọng vốn đầu tư từ nguồn vốn khác.

2. Cty CP Vận tải Ôtô Tiền Giang:

2.1. Đề nghị tỉnh kiến nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo giảm lãi suất cho vay của các Ngân hàng Thương mại xuống còn khoản 7% - 8% /năm đối với các khoản vay đầu tư trung và dài hạn của các doanh nghiệp và lãi suất nên ổn định.

* Ý kiến trả lời như sau:

 Hiện nay, trần lãi suất huy động ngắn hạn từ 1 đến dưới 6 tháng được Thống đốc NHNN quy định tối đa là 6%/năm, từ 6 tháng trở lên theo thỏa thuận. Do đó, đối với kỳ hạn huy động từ 6 tháng trở lên được các ngân hàng trên địa bàn áp dụng phổ biến từ 6,5% - 7,5%/năm (tùy theo từng Ngân hàng thương mại). Vì vậy, nếu áp dụng lãi suất cho vay trung, dài hạn từ 7-8%/năm thì Ngân hàng không thể bù đắp đủ chi phí. Hiện trên địa bàn tỉnh, các Ngân hàng cũng đã có chính sách ưu đãi lãi suất, nhất là đối với các doanh nghiệp truyền thống và kinh doanh có hiệu quả.

 Việc ổn định lãi suất là chủ trương luôn được Ngân hàng Nhà nước thực thi  có hiệu quả để ổn định kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thời gian qua, lãi suất luôn có sự biến động do ảnh hưởng tình hình kinh tế lạm phát. Do đó, Ngân hàng Nhà nước đã có sự điều chỉnh lãi suất liên tục để ổn định và phát triển kinh tế đất nước.

2.2. Đề nghị tỉnh có kiến nghị Nhà nước nên có kế hoạch ổn định giá xăng dầu hàng năm, giúp doanh nghiệp giảm bớt khó khăn bị động trong kế hoạch sản xuất kinh doanh, đồng thời cho doanh nghiệp được điều chỉnh giá cước vận tải khi giá xăng dầu tăng và giá các chi phí đầu tư vào của doanh nghiệp tăng.

* Ý kiến trả lời như sau:

- Kế hoạch ổn định giá xăng dầu hàng năm:

Theo Điều 27 của Nghị định số 84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ, quy định nguyên tắc quản lý giá bán xăng dầu như sau: “Giá bán xăng dầu được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước”.

Do đó, việc ổn định giá xăng dầu hàng năm trên địa bàn tỉnh phụ thuộc vào quản lý và điều hành về giá của Liên bộ Tài chính, Công Thương.

- Điều chỉnh giá cước vận tải khi giá xăng dầu tăng và giá các chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng:

Theo Điều 11 của Luật giá 2012, quy định các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tự định giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất, kinh doanh trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá.

Do đó, các đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô có quyền quyết định giá cước vận tải khi các yếu tố đầu vào biến động và phải thông báo đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Theo Điều 15 Nghị định 177/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá, quy định: Cước vận tải hành khách tuyến cố định bằng đường bộ nằm trong danh mục hàng hóa, dịch vụ thuộc diện kê khai giá. Do đó, các đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô phải thực hiện kê khai giá cước vận tải theo đúng quy định hiện hành.

2.3. Giá đất tại tỉnh khi tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất còn cao, đề nghị UBND tỉnh xem xét, điều chỉnh giảm xuống.

* Ý kiến trả lời như sau:

Quyết định số 52/2013/QĐ-UBND ngày 20/12/2013 của UBND tỉnh Tiền Giang Ban hành quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2014, giá đất được xác định trên những nguyên tắc: Sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường và trong khung giá đất quy định tại bảng giá ban hành kèm theo Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ. Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau. Đất tại khu vực giáp ranh giữa các xã có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau.

 3. Cty TNHH MTV cấp nước sinh hoạt Nông thôn Tiền Giang:

3.1. Đề nghị tỉnh đề xuất Trung ương và các ngành liên quan bàn bạc thống nhất cơ chế vốn đối với Công ty cho rõ ràng và cụ thể hơn để tiếp cận nguồn vốn chính sách; phân bổ vốn cho các dự án được duyệt, đồng thời xem xét ưu tiên cấp vốn cho các công trình mới cũng như nâng cấp mở rộng năm 2014 mà Công ty đã lên kế hoạch đã định năm 2013 đặc biệt dự án 05 xã Cù lao huyện Tân Phú Đông.

* Ý kiến trả lời như sau:

Hàng năm, trên cơ sở tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện năm và xây dựng kế hoạch bố trí vốn năm tiếp theo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. Trong quá trình bố trí vốn, Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư công trình (nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thống nhất quản lý), các dự án phải được Ủy ban nhân dân tỉnh duyệt trước ngày 31/10 hàng năm.

Dự án Hệ thống cấp nước 5 xã cù lao - huyện Tân Phú Đông - tỉnh Tiền Giang đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt dự án tại Quyết định số 3106/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 với tổng mức đầu tư là 113.403 triệu đồng (trong đó: vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư 60% tương đương 68.042 triệu đồng, vốn ngân sách tỉnh đối ứng 40% tương đương 45.361 triệu đồng). Công trình chia làm 03 giai đoạn, thực hiện từ năm 2009 đến năm 2012.

Trong các năm 2010-2012, công trình đã được bố trí tổng số vốn là 23.895 triệu đồng (bao gồm: vốn Ngân sách tỉnh là 14.395 triệu đồng, vốn Chương trình mục tiêu quốc gia và Ngân sách Trung ương hỗ trợ là 9.500 triệu đồng) để đầu tư hoàn thành cơ bản các hạng mục chính của giai đoạn 1 và 2 như sau: công trình thu - trạm bơm nước thô 1A, trạm bơm nước thô 1B, hồ chứa nước thô, hạng mục phụ san nền, nhà điều hành, cổng hàng rào, nhà bảo vệ, hệ thống điện, tuyến ống chuyển tải, trạm bơm tăng áp số 1, 2, hàng rào xung quanh hồ chứa nước thô. Các hạng mục chính còn lại thuộc giai đoạn 3 gồm nhà máy xử lý nước và hệ thống phân phối.

Đến nay, dự án chưa được xem xét, bố trí vốn đầu tư tiếp giai đoạn 3. Nguyên nhân chủ yếu do Trung ương chưa có nguồn vốn hỗ trợ riêng cho dự án và UBND tỉnh đã có ý kiến chỉ đạo giao cho Chủ đầu tư quan hệ làm việc, tranh thủ sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp và PTNT để sử dụng nguồn vốn ODA còn thừa từ Dự án Thủy lợi và cấp nước ĐBSCL do Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý, đồng thời giao cho các đơn vị có liên quan nghiên cứu phương án chuyển nước từ đất liền (nước BOO Đồng Tâm) để bổ cấp cho các xã cù lao Tân Phú Đông.

Tính đến nay, công trình đã hết thời hạn để được bố trí vốn theo quyết định đầu tư và theo qui định của Trung ương về nguyên tắc bố trí vốn dành cho dự án nhóm B.

Để có cơ sở xem xét bố trí vốn đầu tư tiếp cho dự án, kính đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì làm việc với Công ty TNHH MTV cấp nước sinh hoạt Nông thôn Tiền Giang rà soát, đánh giá tình hình thực hiện Dự án cấp nước 5 xã cù lao và các công trình cấp nước nông thôn trên địa bàn huyện Tân Phú Đông trong thời gian qua, các kết quả đã đạt được, xác định lại nhu cầu và các phương án cấp nước có hiệu quả trong thời gian tới (bao gồm cấp nước từ hệ thống nước BOO Đồng Tâm), báo cáo đề xuất UBND tỉnh xem xét quyết định chủ trương phương án đầu tư để làm cơ sở cho các ngành, các địa phương có liên quan phối hợp thực hiện, bao gồm việc điều chỉnh dự án Hệ thống cấp nước 5 xã cù lao - huyện Tân Phú Đông (nếu có).

 3.2. Đề nghị tỉnh xem xét sớm duyệt điều chỉnh đơn giá mới cho nước tiêu thụ trên địa bàn tỉnh mà Công ty đã đề nghị.

* Ý kiến trả lời như sau:

Liên Sở Tài chính - Xây dựng - Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Tờ trình số 13/TTrLN-STC-SXD-SNN&PTNT ngày 17/7/2014 trình Uỷ ban nhân dân tỉnh Phê duyệt phương án điều chỉnh giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt của Công ty TNHH MTV Cấp nước Tiền Giang và Công ty TNHH MTV Cấp nước sinh hoạt Nông thôn Tiền Giang.

 3.3. Đề nghị tỉnh có giải pháp chuyển nước từ đất liền (nước BOO) phân bổ cấp cho khu vực cù lao; đề nghị phải đền bù di dời công trình khi các địa phương đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng cho phát triển kinh tế xã hội ở địa phương ảnh hưởng tới hoạt động cấp nước, hệ thống ống chuyển tải nước.

* Ý kiến trả lời như sau:

Trước yêu cầu bức xúc phải có nguồn cung cấp nước sạch đảm bảo về chất lượng, ổn định lưu lượng, trước hết là đáp ứng tốt cho đời sống sinh hoạt của người dân huyện Tân Phú Đông; Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã giao Công ty TNHH Một thành viên Cấp nước Tiền Giang lập hoàn chỉnh dự án Xây dựng tuyến ống tiếp nhận nước từ Nhà máy BOO Đồng Tâm cung cấp cho huyện Tân Phú Đông với lưu lượng 6.000 m3/ngày-đêm, tổng vốn đầu tư khoảng 44 tỷ đồng.

Ngày 22/7/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh có công văn số 3331/UBND-ĐTXD gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc kiến nghị hỗ trợ vốn Trung ương cho dự án cấp nước Huyện Tân Phú Đông xem xét cân đối 44 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn và vốn Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu để hỗ trợ tỉnh đầu tư dự án trên, đảm bảo yêu cầu đề ra.

Khi đã xác định nguồn vốn hỗ trợ đầu tư, Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ chỉ đạo chủ đầu tư hoàn chỉnh các thủ tục theo đúng qui định, để tập trung triển khai thi công hoàn thành công trình trong năm 2015, đáp ứng nhu cầu bức xúc của người dân.

   4. Cty TNHH xây dựng Hữu Quế:

  Đề nghị tỉnh xem xét bù giá nhân công cho công trình thuộc dự án “Khối cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Tiền Giang” .

* Ý kiến trả lời như sau:

Sở Xây dựng đã tiếp xúc với đại diện Công ty TNHH Xây dựng Hữu Quế và đại diện Phòng Hậu Cần Công an tỉnh Tiền Giang (đại diện chủ đầu tư công trình) để hướng dẫn về nguyên tắc, phương pháp tính toán điều chỉnh chi phí nhân công trong dự toán công trình theo các văn bản hướng dẫn của UBND tỉnh. Qua tiếp xúc, trao đổi đại diện nhà thầu và chủ đầu tư đã thống nhất với hướng dẫn của Sở Xây dựng và đang tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ xin điều chỉnh chi phí nhân công công trình Khối cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Tiền Giang trình UBND tỉnh phê duyệt.

5. Công ty CP Vật liệu Xây dựng Tiền Giang:  

5.1. Đề nghị xem xét lại số tiền phạt nộp chậm tiền sử dụng đất mà Chi cục thuế huyện Cai Lậy đã tính cho Công ty, hiện tại Công ty đang gặp rất nhiều khó khăn.

* Ý kiến trả lời như sau:

Tại Điều 106, Luật số: 21/2012/QH13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế qui định:
 Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức lũy tiến 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp không quá chín mươi ngày; 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn chín mươi ngày.

Trường hợp Công ty CP Vật liệu Xây dựng Tiền Giang chậm nộp tiền sử dụng đất thì phải tính tiền chậm nộp theo qui định nêu trên.

5.2. Đề nghị Sớm cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do sai xót trong khâu đo đạt) cho công ty để xác định lại số tiền sử dụng đất phải nộp trong đầu tư dự án chợ “Chợ Hội Xuân và Hạ tầng khu dân cư”.

* Ý kiến trả lời như sau:

Hiện nay Văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất tỉnh đang tiến hành đo đạc lại để làm cơ sở cho Công ty CP Vật liệu xây dựng Tiền Giang cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

6. Công ty Lương thực Tiền Giang:

6.1 Qui định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 9 của Nghị định 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ có qui định: “Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào: có chứng từ thanh toán qua Ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng”. Đề nghị nới lỏng qui định này về mặt giá trị 20 triệu đồng nâng lên 250 triệu đồng để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp; Đề nghị không tính thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với sản phẩm lúa/gạo và các phụ phẩm thu hồi từ chế biến lúa/gạo.

* Ý kiến trả lời như sau:

- Đề nghị nâng số tiền ghi trên hoá đơn phải thanh toán không dùng tiền mặt từ 20.000.000 đồng lên 250.000.000 đồng.
Vấn đề này, Cục Thuế tỉnh Tiền Giang ghi nhận ý kiến và sẽ báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế.

- Đề nghị không tính thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với sản phẩm lúa/gạo và các phụ phẩm thu hồi từ chế biến lúa/gạo.
 Vấn đề này Tổng cục Thuế đã có công văn số 7062/BTC-TCT ngày 29/5/2014 hướng dẫn: Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường và thực phẩm tươi sống ở khâu kinh doanh thương mại cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Ví dụ: lúa (thóc) xay xát ra gạo - gạo đã qua công đoạn đánh bóng; Sản phẩm tấm, cám, trấu được tạo ra từ quá trình xay xát thóc…là sản phẩm trồng trọt chưa chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
Căn cứ hướng dẫn trên, doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán lúa, gạo và các phụ phẩm tấm, cám, trấu ở khâu kinh doanh thương mại cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.

  6.2. Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa được giải quyết. Hiện tại, Công ty còn 07 lô đất, tổng diện tích đất 42.660,2 m2 đang vướng mắc về thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy quyền sử dụng đất, cụ thể: tại xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy (3 lô đất, 28.660,5 m2), tại thị trấn Mỹ Phước, huyện Tân Phước (1 lô đất, diện tích 10.855,6 m2), tại  xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo (2 lô đất, 1.132 m2), tại xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông (1 lô đất, 2.012,1 m2)

* Ý kiến trả lời như sau:

Sở Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 3419/STNMT-QLĐĐ ngày 11/10/2013 để xin ý kiến Tổng cục Quản lý đất đai việc Công ty Lương thực Tiền Giang nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất nhưng hiện Sở vẫn chưa nhận được phúc đáp của Tổng cục Quản lý đất đai.

         6.3. Từ năm 2010 đến nay, Công ty Lương thực Tiền Giang chưa thể nộp tiền thuê đất cho Nhà nước, do hợp đồng thuê đất ký vào năm 2003, giữa bên cho thuê đất là Công ty Xây dựng thủy lợi Tiền Giang và bên thuê đất là Công ty Lương thực thực Tiền Giang không còn giá trị pháp lý (Công ty Xây dựng thủy lợi Tiền Giang không còn tồn tại, bên cho thuê đất đã thay đổi chủ thể). Ngày 21/11/2013, Sở Tài nguyên & Môi trường có tổ chức họp với các cơ quan, sở ngành có liên quan để xác định chủ thể đứng ra ký hợp đồng thuê đất với Công ty Lương thực Tiền Giang, nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất và do vậy, đến nay Công ty vẫn chưa được ký hợp đồng thuê đất mới.

* Ý kiến trả lời như sau:

Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức họp với các ngành có liên quan và sẽ tổng hợp trả lời Uỷ ban nhân dân tỉnh.

6.4. Công ty hiện có 02 Bến thủy nội địa chưa được xem xét cấp phép hoạt động, địa điểm tại: Phân xưởng Xay xát Mỹ Phước (Thị trấn Mỹ Phước, huyện Tân Phước) và Xí nghiệp Xay xát & Chế biến Lương thực số 3 (xã Hậu Mỹ Bắc A, huyện Cái Bè). Hai cơ sở chế biến lương thực này có Bến thủy nội địa được hình thành rất lâu (trước năm 1986), nhưng hiện tại, gần 02 Bến thủy này có 02 cây cầu mới xây dựng sau này nên không được phép gia hạn giấy phép cũng như không được mở mới Bến thủy nội địa. (Hai Bến thủy nội địa nêu trên thuộc Đoạn Quản lý đường thủy nội địa số 15 và số 11 trực thuộc Chi cục quản lý đường thủy nội địa phía Nam quản lý).

* Ý kiến trả lời như sau:

          Căn cứ văn bản số 360/ĐTNĐ11-KT ngày 14/7/2014 của Đoạn Quản lý đường thủy nội địa số 11 về việc ý kiến vị trí bến phân xưởng xay xát Mỹ Phước trên kênh Xáng Long Định và văn bản số 649/ĐTNĐ15-KT ngày 15/7/2014 của của Đoạn Quản lý đường thủy nội địa số 15 về việc ý kiến vị trí bến của xí nghiệp xay xát & chế biến lương thực số 3 trên kênh Tháp Mười số 2, 02 bến thủy nội địa này thuộc kênh do Trung ương quản lý và qua kiểm tra thực tế căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 10 Thông tư số 25/2010/TT-BGTVT ngày 31/8/2010 Quy định về quản lý hoạt động của cảng, bến thủy nội địa hiện trạng 02 bến này nằm trong hành lang bảo vệ luồng nên không đủ điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động.

6.5. Có chính sách và hỗ trợ đầu tư trong việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ nhằm giúp doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sau thu hoạch và công nghệ bảo quản lúa xuất khẩu, góp phần tăng khả năng thu mua lúa trực tiếp từ nông dân.

* Ý kiến trả lời như sau:

Theo Quyết định số 2152/QĐ-UBND ngày 04/9/2013 của UBND tỉnh về Phê duyệt Dự án nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Tiền Giang đến năm 2020 có nội dung hỗ trợ Công ty Lương thực Tiền Giang phát triển sản phẩm chủ lực từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.

Để được hỗ trợ từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Công ty xây dựng dự án khoa học và công nghệ để được vay vốn với lãi suất ưu đãi. 

           7. Công TNHH XNK Thủy sản An Phát:

           7.1. Đề nghị tỉnh áp dụng đơn giá thuê đất theo hợp đồng đã ký trước đây và khi có Nghị định mới về chính sách thuê đất thì tỉnh cho doanh nghiệp nộp tiền thuê đất một lần đối với thời gian còn lại để doanh nghiệp yên tâm sản xuất kinh doanh.

* Ý kiến trả lời như sau:

  a) Về giá đất của khu công nghiệp Mỹ Tho điều chỉnh tăng quá cao gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đề nghị tỉnh áp dụng đơn giá thuê đất theo hợp đồng đã ký trước đây:

 Căn cứ Quyết định số 2381/QĐ-UBND ngày 28/6/2006 về việc cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát thuê đất tại Khu công nghiệp Mỹ Tho và tại Khoản 1, Điều 2 Hợp đồng thuê đất số 744/HĐTĐ ngày 30/6/2006 giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang và Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát có ghi “Giá tiền thuê đất sẽ được điều chỉnh theo quy định của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước” thì thời hạn điều chỉnh lại đơn giá thuê đất là ngày 28/6/2011.

Giá đất sản xuất kinh doanh tại Khu CN Mỹ Tho được áp dụng để làm cơ sở xác định đơn giá thuê đất cho thời hạn tiếp theo Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát theo Công văn số 2636/STNMT-ĐGĐ&TĐC của Sở Tài nguyên và Môi trường là 1.600.000 đ/m2 (giá đất này đã được đưa vào bảng giá đất năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh).

Căn cứ quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ và Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29/6/2011 của Bộ Tài chính, ngày 28/11/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND về việc phê duyệt đơn giá thuê đất, khung giá thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang được thực hiện để áp dụng đơn giá thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thống nhất trên toàn tỉnh.

Theo Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND ngày 28/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt đơn giá thuê đất, khung giá thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang thì đơn giá thuê đất của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát bằng 2,5% giá đất theo mục đích sử dụng.

Ngày 25/01/2014, Sở Tài chính có Công văn số 266/STC-VGCS trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt giá điều chỉnh đơn giá thuê đất của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát thời hạn 05 năm tiếp theo tính từ ngày 28/6/2011 là:
1.600.000đ/m2 x 2,5% = 40.000đ/m2/năm.

Tại Điều 1, Quyết định số 2093/QĐ-TTg ngày 23/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảm tiền thuê đất trong năm 2011 và năm 2012 đối với một số tổ chức kinh tế quy định:

“Giảm 50% tiền thuê đất trong năm 2011 và năm 2012 cho các tổ chức kinh tế đang hoạt động trong các ngành sản xuất (không bao gồm các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ) đang thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm mà trong năm 2011 và năm 2012 phải xác định đơn giá thuê đất theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 2 Quyết định này, gồm:

- Tổ chức kinh tế đến thời hạn xác định lại đơn giá thuê đất cho thời kỳ ổn định mới.

- Tổ chức kinh tế hết thời gian được miễn tiền thuê đất mà đến thời hạn phải xác định tiền thuê đất phải nộp.

- Tổ chức kinh tế đã sử dụng đất trước ngày 01 tháng 3 năm 2011 đang được tạm nộp tiền thuê đất mà từ ngày 01 tháng 3 năm 2011 phải xác định chính thức số tiền thuê đất phải nộp.

Tiền thuê đất sau khi được giảm theo quy định tại Điều này không thấp hơn tiền thuê đất phải nộp năm 2010 (với cùng mục đích sử dụng đất thuê và diện tích tính thu tiền thuê đất). Trường hợp tiền thuê đất sau khi được giảm vẫn lớn hơn 2 lần so với tiền thuê đất phải nộp của năm 2010 thì tổ chức kinh tế được giảm tiếp tiền thuê đất của năm 2011, năm 2012 đến mức bằng 2 lần tiền thuê đất phải nộp của năm 2010”.

Tại điểm đ, khoản 2, mục I Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu quy định:

“đ) Giảm 50% tiền thuê đất năm 2013, năm 2014 đối với các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất mà số tiền thuê đất phải nộp theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ tăng quá 2 lần so với mức nộp năm 2010 (theo chính sách thu tiền thuê đất trước ngày Nghị định số 121/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành). Trường hợp tiền thuê đất sau khi được giảm vẫn lớn hơn 2 lần so với tiền thuê đất phải nộp của năm 2010 thì được giảm tiếp tiền thuê đất đến mức bằng 2 lần tiền thuê đất phải nộp của năm 2010”.

Do đó, khi Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất chuyển hồ sơ sang cơ quan thuế thì Công ty sẽ được giảm tiền thuê đất theo quy định.

Quy trình xác định lại đơn giá thuê đất Sở Tài chính đã thực hiện đúng theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29/6/2011 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30/12/2005 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND ngày 28/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt đơn giá thuê đất, khung giá thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.

Sở Tài chính đã Phối hợp với Cục thuế tỉnh nhiều lần làm việc với Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát để thông báo về đơn giá thuê đất, số tiền thuê đất được giảm theo quy định nhưng đại diện phía Công ty không đồng ý với đơn giá thuê đất được áp dụng.

b) Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Thủy sản An Phát đề nghị khi có Nghị định mới về chính sách thuê đất thì tỉnh cho doanh nghiệp nộp tiền thuê đất một lần đối với thời gian còn lại để doanh nghiệp yên tâm sản xuất kinh doanh:

Căn cứ Khoản 2, Điều 172, Luật đất đai năm 2013 quy định Quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất
“2. Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm được chuyển sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và phải xác định lại giá đất cụ thể để tính tiền thuê đất tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển sang thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê theo quy định của Luật này.”
Căn cứ quy định trên thì kể từ ngày 01/7/2014, Công ty có thể lập thủ tục để được chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sang thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

7.2. Về miễn giảm tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất: Công ty có xây nhà ở cho công nhân nhưng gặp khó khăn về thủ tục nhà đất. Công ty CP Gò Đàng, Công TNHH XNK Thủy sản An Phát tự tìm đất để mua nhưng không được miễn giảm tiền sử dụng đất (chi phí này rất cao ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh). Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở ngành cũng quan tâm tổ chức họp nhưng đến nay vẫn chưa có cách giải quyết thỏa đáng. Do đó, kiến nghị các sở, ngành có liên quan hỗ trợ tạo điều kiện giúp đỡ doanh nghiệp trong vấn đề này (ưu tiên miễn giảm tiền chuyển mục đích sử dụng đất để Công ty đầu tư nhà ở cho công nhân).

 * Ý kiến trả lời như sau:

Ngày 22/11/2011 Cục Thuế có công văn số 984/CT-THNVDT báo cáo và xin ý kiến Tổng cục Thuế về việc vướng mắc khi thực hiện Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; tiếp đó ngày 05/3/2012 Tổng cục Thuế có công văn số 711/TCT-CS trả lời: trường hợp các doanh nghiệp thỏa mãn các quy định nêu tại Điều 2, Điều 3, Điều 4 của Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì được hưởng các ưu đãi đối với chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở công nhân khu công công nghiệp quy định tại Điều 5 Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg.

Cục thuế đã có công văn số 250/CT-THNVDT ngày 26/3/2012 V/v xác định nghĩa vụ tài chính báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trường hợp Công ty cổ phần Gò Đàng chưa thỏa mãn các quy định nêu tại Điều 2, Điều 3, Điều 4 của Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 nên Công ty không được hưởng các ưu đãi đối với chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở công nhân khu công nghiệp quy định tại Điều 5 Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã có công văn số 3820/UBND-TM ngày 23/8/2012 về việc kiến nghị về chính sách phát triển nhà ở cho công nhân tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tiếp theo ngày 22/10/2012 Bộ Tài chính có công văn số 14381/BTC-QLCS ngày 22/10/2012 trả lời các dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp trên đất chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp nhận chuyển nhượng nằm ngoài Khu công nghiệp không đáp ứng được các điều kiện xây dựng nhà ở cho công nhân lao động tại các Khu công nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 2 Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ nên không được hưởng chính sách miễn tiền sử dụng đất quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ; được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ và Quyết định số số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

8. Cty Nông sản thực phẩm Tiền Giang:

8.1. Kính đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung vị trí đấu nối đường song hành bờ Bắc Mỹ Thuận vào Quốc lộ 1 vào quy hoạch các điểm đấu nối vào Quốc lộ trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và gửi về Bộ Giao thông Vận tải xem xét, để tạo điều kiện cho đơn vị sử dụng điểm đấu nối này.

* Ý kiến trả lời như sau:

  - Về việc bổ sung vị trí đấu nối: Sở Giao thông vận tải có văn bản số 958/SGTVT-KH ngày 13/5/2014 gửi Công ty Nông sản thực phẩm Tiền Giang về việc lập hồ sơ di dời và bổ sung Quy hoạch đấu nối đường song hành bờ Bắc cầu Mỹ Thuận vào Quốc lộ 1 trong đó đề nghị Công ty lập hồ sơ thiết kế phương án tổ chức giao thông của nút giao đang đề nghị bổ sung vào quy hoạch đấu nối với Quốc lộ và bản vẽ bình đồ đoạn tuyến có thể hiện điểm đấu nối hiện hữu và điểm đấu nối mới theo đề xuất gửi về Sở Sở Giao thông vận tải để báo cáo Bộ Sở Giao thông vận tải xem xét bổ sung vị trí đấu nối.

  - Về việc mở rộng đường hiện hữu dưới gầm cầu Mỹ Thuận: Bộ Sở Giao thông vận tải có văn bản số 4921/BGTVT-VT ngày 01/7/2008 về việc chấp thuận cho phép mở rộng, nâng cấp đường hiện hữu đi dưới gầm cầu Mỹ Thuận tỉnh Tiền Giang.
8.2. Kính đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh có sự tác động đến các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận chủ trương cho Công ty tiến hành nạo vét cục bộ tại các vị trí cầu nhập xuất hàng bằng máy bơm hút cát, bùn để tạo điều kiện cho các phương tiện vận chuyển có thể neo đậu xuất nhập hàng hóa. (Do bờ bến thuộc bãi bồi, phù sa bồi đắp đến nay trung bình khoảng 01m, thêm vào đó là mực nước ròng đang ở mức thấp).

* Ý kiến trả lời như sau:

 - Vị trí các cầu nhập xuất hàng của Công ty nằm trên sông Tiền thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục Đường thủy nội địa phía Nam. Đề nghị, Công ty liên hệ Chi cục Đường thủy nội địa phía Nam để được hướng dẫn cụ thể.

    9. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Tây Tiền Giang:

 9.1. Đề nghị định kỳ hàng quý, các cơ quan thuế gửi danh sách còn nợ thuế để Ngân hàng nắm và chọn lọc đầu tư vào khách hàng tín dụng nếu Ngân hàng nào có đề nghị; đối với việc thu ngân sách nhà nước qua Ngân hàng: đề nghị đa dạng hóa việc nộp thuế, tiền phạt tại nhiều Ngân hàng nếu Ngân hàng có đủ điều kiện để tham gia thu ngân sách nhà nước.

* Ý kiến trả lời như sau:

Tại Điều 73, Chương IX, Luật số: 78/2006/QH11Luật quản lý thuế qui định: Cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế, người đã là công chức quản lý thuế, tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế phải giữ bí mật thông tin của người nộp thuế theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp quy định Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm cung cấp thông tin của người nộp thuế cho các cơ quan sau đây:

- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án;

- Cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán nhà nước;

- Các cơ quan quản lý khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Cơ quan quản lý thuế nước ngoài phù hợp với điều ước quốc tế về thuế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Căn cứ quy định nêu trên, Cục Thuế tỉnh Tiền Giang không được cung cấp danh sách nợ thuế cho ngân hàng.

9.2. Đối với việc chứng thực Hợp đồng thế chấp hoặc xác nhận 01 số giấy tờ có liên quan cấp độ Xã, Phường, Thị trấn: Kiến nghị: Tăng cường lưu ý, nhắc nhở vai trò trách nhiệm cá nhân của các Lãnh đạo cấp Phường, xã, Thị trấn nhằm đảm bảo tính chính xác trong thực thi trách nhiệm của mình, tuân thủ quy trình quy định. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của những cá nhân có trách nhiệm trong việc chứng thực, xác nhận các nội dung trong phạm vi thẩm quyền của mình. Nếu sai sót thì phải chịu trách nhiệm về vật chất đối với hành vi sai sót của mình trong trường hợp ngân hàng kiện hành chánh đối với trách nhiệm do sai sót đó.

* Ý kiến trả lời như sau:

Để thực hiện tốt công tác chứng thực các hợp đồng, giao dịch (đối với các xã, thị trấn chưa thực hiện chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch cho các Tổ chức hành nghề công chứng) và công tác chứng thực theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Sở Tư pháp sẽ có văn bản chấn chỉnh, đồng thời sẽ đẩy mạnh việc phát triển các Tổ chức hành nghề công chứng theo quy hoạch đảm bảo đủ sức đáp ứng nhu cầu công chứng và tiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức.

Trong thời gian tới Sở Tư pháp sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra, thanh tra, củng cố, chấn chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực ngày càng tốt hơn.

9.3. Đối với việc thi hành án các khoản nợ đã có hiệu lực thi hành: Kiến nghị: Viện kiểm sát các cấp khẩn trương kiểm tra, giám sát việc thực hiện các thủ tục thi hành án để giải quyết sớm các vụ việc tồn đọng (Riêng đối với Vietinbank Tây Tiền Giang thì cần thiết lưu ý Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy).

* Ý kiến trả lời như sau:

Do trong nội dung kiến nghị của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Tây Tiền Giang nêu chung chung không cụ thể vụ việc nào nên Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy không thể trả lời phản ảnh này.

9.4. Về tăng cường công tác đảm bảo an ninh, an toàn khu vực ngân hàng: Kiến nghị: Cơ quan công an các cấp tăng cường trấn áp, rà soát, gíam sát và nắm bắt tình hình diễn tiến tội phạm, phối hợp tốt với lực lượng bảo vệ chuyên trách tại đơn vị. Mạnh tay trấn áp các đối tượng ngay từ ban đầu hoặc khi có các hành vi đáng ngờ, đặc biệt khu vực các ngân hàng đóng trụ sở. Tạo tâm lý an tâm, an toàn cho tất cả các khách hàng khi đến giao dịch.

* Ý kiến trả lời như sau:

Để có cơ sở trả lời kiến nghị của Ngân hàng, Công an tỉnh chỉ đạo Công an thị xã Cai Lậy tiến hành xác minh vụ việc. Kết quả qua trao đổi với ông Phạm Hoàng Anh Tuấn - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Tây Tiền Giang được biết thời gian qua, tình hình an ninh trật tự tại Ngân hàng tương đối ổn định, chưa xảy ra tội phạm nhưng trước tình hình diễn biến các loại tội phạm ngày càng có tính chất phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm tại khu vực Ngân hàng đóng trụ sở nên Ngân hàng đã có kiến nghị lực lượng Công an cần tăng cường công tác nắm tình hình diễn biến tội phạm, kịp thời đấu tranh, trấn áp các đối tượng tội phạm, nhất là các đối tượng có biểu hiện nghi vấn nhằm đảm bảo an ninh trật tự tại Ngân hàng.

Qua kiến nghị của Ngân hàng, thời gian tới Công an tỉnh sẽ chỉ đạo lực lượng nghiệp vụ, Công an phường nơi Ngân hàng đóng trụ sở tăng cường công tác phối hợp nắm tình hình, quản lý chặt địa bàn, đối tượng trọng điểm gắn với quản lý cư trú, tuần tra kiểm soát, kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực Ngân hàng.

10. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tiền Giang:

  10.1. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy có biện pháp nhanh chóng đưa 02 vụ kiện của Ngân hàng đối với Chủ DNTN Trần Hoàng Thuận và Chủ DNTN Phát Lợi ra xét xử để Ngân hàng còn thực hiện các bước thu hồi nợ tiếp theo.

* Ý kiến trả lời như sau:

- Vụ kiện Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tiền Giang kiện chủ Doanh nghiệp tư nhân Phát Lợi đã được giải quyết xong bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2014/TLST-KDTM ngày 05/5/2014 của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy.

- Vụ kiện Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tiền Giang kiện chủ Doanh nghiệp tư nhân Trần Hoàng Thuận, Toà án nhân dân huyện Cai Lậy ban hành Quyết định Ủy thác thu thập chứng cứ số 01/2013/QĐ-UTTA ngày 04/10/2013 cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang tiến hành thu thập chứng cứ của các Ông Trần Ngọc Thảo, Nguyễn Văn Nhãn và Nguyễn Văn Hưởng là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện nhưng chưa có kết quả của việc ủy thác. Đến ngày 20/5/2014, Tòa án nhân dân thị xã Cai lậy nhận hồ sơ do Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy chuyển đến để giải quyết theo thẩm quyền. Hiện tại, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đang tiếp tục thu thập chứng cứ để đưa vụ kiện nêu trên ra xét xử.  

10.2.  Đề nghị cơ quan thi hành án kê biên bổ sung toàn bộ tài sản (vì cơ quan thi hành án kê biên tài sản không hợp lý nên tài sản khó bán) đối với người phải thi hành án là ông Đoàn Văn Trí và bà Nguyễn Minh Cảnh ngụ tại 821, Lý Thường Kiệt, P5, TP.Mỹ Tho, Tiền Giang.

  * Ý kiến trả lời như sau:

Ngày 30/3/2011 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho thụ lý thi hành Bản án quyết định số: 88/QĐST-DS ngày 29/11/2010 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo đơn yêu cầu thi hành án là Ông Đoàn Văn trí và Bà Nguyễn Minh Cảnh, ngụ tại 821 Lý Thường Kiệt, phường 5, thành phố Mỹ Tho.

Quá trình thi hành án: Theo nội dung bản án nếu Ông Trí và Bà Cảnh không trả nợ gốc và tiền lãi theo thỏa thuận thì Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tiền Giang có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án thanh lý tài sản mà Ông Trí, Bà Cảnh đã thế chấp cho Ngân hàng gồm: 02 giấy chứng nhận QSDĐ số 24096 ngày 12/11/2002 và 24294 ngày 15/7/2003 do UBND huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp cho hộ Ông Đoàn Văn Trí để thi hành án.

Do tài sản thế chấp đảm bảo thi hành án ở tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho đã Ủy thác thi hành án cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang tiếp tục thi hành án đối với Ông Trí, Bà Cảnh theo quyết định Ủy thác thi hành án số: 42/QĐ-CCTHA ngày 14/7/2011.    

11. Công ty CP In Tiền Giang:

Đề nghị được thuê lại phần đất mặt tiền Công ty 206,98 m2 (UBND tỉnh đã có chủ trương cho bà Trần Thị Mỹ Hoa thuê để kinh doanh dịch vụ theo giá thị trường trong thời gian tỉnh chưa có kế hoạch sử dụng).

* Ý kiến trả lời như sau:

Phần đất 206,98m2, tọa lạc số 10 đường Học Lạc, phường 3, thành phố Mỹ Tho, trước đây Công ty Cổ phần In Tiền Giang ký hợp đồng cho Bà Trần Thị Mỹ Hoa thuê đất để kinh doanh dịch vụ là vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 20/7/2010 thu hồi phần đất trên đúng theo quy định của pháp luật, giao cho Trung tâm Phát triển Quỹ đất và Đầu tư xây dựng hạ tầng tỉnh quản lý, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các cơ quan liên quan, Công ty Cổ phần In Tiền Giang, Ông Nguyễn Văn Dũng và Bà Trần Thị Mỹ Hoa chấp hành nghiêm túc Quyết định số 2170/QĐ-UBND ngày 20/7/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Trong thời gian chưa có kế hoạch sử dụng phần đất 206,98m2 như trên, Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trương cho Bà Trần Thị Mỹ Hoa thuê để kinh doanh dịch vụ, thời gian thuê từng năm, theo giá thị trường, khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất thì Bà Trần Thị Mỹ Hoa phải giao đất lại cơ quan nhà nước và không được đòi hỏi bồi thường, hỗ trợ khoản tiền nào…

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định giao Ủy ban nhân dân Thành phố Mỹ Tho quản lý phần đất trên.

Sau đó, Ủy ban nhân dân Thành phố Mỹ Tho tiến hành cho bà Trần Thị Mỹ Hoa thuê đất theo chủ trương của tỉnh…. Theo đó, ngày 13/01/2014 Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho ban hành Quyết định số 107/QĐ-UBND về việc cho bà Trần Thị Mỹ Hoa thuê đất đối với phần đất nêu trên, thời hạn thuê đất là 1 năm, kể từ ngày ký quyết định. Đồng thời, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Mỹ Tho đã ký hợp đồng thuê đất với Bà Trần Thị Mỹ Hoa vào ngày 20/01/2014.

Từ các căn cứ trên cho thấy phần đất 206,98m2, tọa lạc số 10 đường Học Lạc, phường 3, thành phố Mỹ Tho hiện tại đang cho Bà Trần Thị Mỹ Hoa thuê theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tại Công văn 510/UBND-CN ngày 10/02/2011 nên không thể xem xét theo yêu cầu của Công ty cổ phần In Tiền Giang.

Trân trọng kính chào./.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 7
  • Khách viếng thăm: 6
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 128
  • Tháng hiện tại: 20184
  • Tổng lượt truy cập: 5521419
DN thành viên
HTX Rạch Gầm
Cty CP Đầu tư & Xây dựng TG
Mobifone

Thủ tục tham gia

Ebook "Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp"

 Tải về Ebook "Cẩm nang văn bản pháp luật dành cho doanh nghiệp"


Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật của Tiền Giang

Nhằm giúp cho các doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc nắm bắt các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp. 
Trong cuốn sách điện tử này, chúng tôi đã tập hợp các văn bản pháp quy thuộc gần 50 bộ Luật, Luật có liên quan mật thiết đến hoạt động của doanh nghiệp và sắp xếp thành 41 thư mục chính để thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu. Chúng tôi tin tưởng rằng đây sẽ là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho mỗi doanh nghiệp trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Toàn cảnh Hội nghị Xúc tiến Đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2018